Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

SỰ DỐI TRÁ ĐƯỢC CHE ĐẬY PHÍA SAU LỚP VỎ BỌC "ĐỨC TIN"

 "Tôi không hề quay lưng lại với chúa, Giê-su hay kinh thánh. Tôi chỉ nhận ra rằng tất cả đều là những lời dối trá. Mọi chuyện đơn giản là thế.

Tôi lớn lên trong sự dạy dỗ, uốn nắn và bị nhồi nhét tư tưởng Kitô giáo từ mẹ mình. Bà cũng chẳng biết gì hơn; bà chỉ làm với tôi và anh chị em tôi những gì người ta đã từng làm với bà.

Phải cho đến khi trưởng thành, tôi mới thực sự đọc cuốn sách đó từ đầu đến cuối. Chính lúc đó, tôi nhận ra mình đã bị lừa dối.

Là một người từng được nuôi dưỡng để tin tưởng và bảo vệ những thứ nhảm nhí này, việc tháo gỡ và từ bỏ chúng quả thực rất khó khăn.

Nhưng tôi đã làm được.

Và thực lòng mà nói, việc bảo tôi xem xét Kitô giáo — hay bất kỳ tôn giáo nào khác — có chút sự thật nào hay không, chẳng khác gì một sự xúc phạm đối với trí tuệ của tôi."

Andre Smith

St

Chienslambao.blogspot.com

https://www.facebook.com/share/p/1DnnehLPqP/





THẦN THOẠI JESUS VÀ CÁI MU TRINH TIẾT.

 Dù cả hai câu chuyện về sự ra đời của Jesus trong sách Mátthêu và Luca đã mâu thuẫn nhau đến mức chí mạng, ít nhất một trong hai (hoặc cả hai) rõ ràng là sản phẩm của trí tưởng tượng. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ với các nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo La Mã. Họ tiếp tục nâng cấp câu chuyện bằng cách thêm vào hàng loạt chi tiết hư cấu, lan rộng như một căn bệnh ung thư không thể kiểm soát.

Đầu tiên, họ biến Maria thành "Đức Trinh Nữ vĩnh cửu" vì ý tưởng rằng bà quan hệ tình dục bị coi là quá ô uế, không xứng với vai trò "Mẹ Thiên Chúa".  

Tiếp theo, để đảm bảo Jesus không bị vấy bẩn tội nguyên tổ, họ phải làm cho chính sự thụ thai của Maria cũng là kỳ diệu: 'Thiên thai vô nhiễm nguyên tội" (Immaculate Conception) tức là bản thân Maria được sinh ra mà không mang tội tổ tông.  

Và chưa dừng lại, họ còn tuyên bố rằng cuối đời, Maria được lên trời cả hồn lẫn xác (Assumption), giống hệt như Jesus.

Những ý tưởng này không phải ngẫu nhiên. Thế giới cổ đại đầy rẫy các truyền thuyết về những nhân vật vĩ đại được sinh ra từ trinh nữ hoặc có cha là thần linh: Hercules (con Zeus), Alexander Đại đế (được cho là con của thần thánh), Augustus Caesar (con Apollo), Plato, Pythagoras, Apollonius của Tyana, và các vị thần cứu thế như Krishna, Osiris, Dionysus, Tammuz... Tất cả đều nhằm nâng tầm nhân vật đó lên cấp độ thần thánh. Không có gì lạ khi một số tác giả Kitô giáo sớm cảm thấy Jesus cũng cần "được nâng cấp" tương tự để cạnh tranh.

Thế nhưng, những tác giả Kitô giáo sớm nhất lại không hề nhắc đến chuyện sinh bởi trinh nữ. Các thư của Phaolô im lặng hoàn toàn về vấn đề này. Phúc Âm Máccô – Phúc Âm cổ nhất – không hề nhắc đến chi tiết đó. Giăng cũng chẳng thèm dùng đến. Ý tưởng "sinh bởi trinh nữ" chỉ xuất hiện muộn hơn nhiều, trong sách Mátthêu và Luca, rồi từ đó "sự bịa đặt thần học" bắt đầu mọc cánh bay lên.

Khi câu chuyện sinh bởi trinh nữ đã được chấp nhận, Giáo hội La Mã phải đối mặt với vấn đề: Trong sách Máccô 6:3 rõ ràng nói Jesus là "con trai bà Maria, là anh em của Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon", và còn có "các em gái". Để bảo vệ trinh tiết Maria vĩnh cửu, Giáo hội tuyên bố những người này là con riêng của Giuse từ cuộc hôn nhân trước, một giả thuyết hoàn toàn không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh hay lịch sử nào hỗ trợ.

Rồi vấn đề tiếp tục: nếu Jesus sinh từ Maria, lẽ nào tội nguyên tổ lại lây qua người mẹ? Các nhà thần học tranh cãi hàng thế kỷ, cho đến tận năm 1854, khá là muộn so với thời Jesus, Vatican mới chính thức công bố giáo điều: Thiên thai vô nhiễm nguyên tội. Lại dựa trên... không một bằng chứng cụ thể nào, chỉ là thấy "phù hợp".

Chưa hết, đến năm 1950, Giáo hoàng Pius XII tuyên bố thêm: Đức Maria, sau khi kết thúc đời sống trần thế, được đưa cả hồn lẫn xác lên thiên đàng. Lần nữa, lại không có bằng chứng Kinh Thánh, không có tài liệu lịch sử nào, chỉ có tuyên bố rằng đây là "mặc khải từ Thiên Chúa" và Giáo hội tự cho mình quyền quyết định điều đó là gì.

Hãy thử tưởng tượng nếu ngày nay ai đó công bố một câu chuyện tương tự: một người phụ nữ sống trọn đời trinh tiết, bổng nhiên có thai rồi bay thẳng lên trời cả hồn lẫn xác. Người ta sẽ cười vào mặt, gọi đó là chuyện hoang đường, và nó sẽ tan biến ngay lập tức. Vậy mà hơn một tỷ người Công giáo vẫn tin những lớp hư cấu chồng chất này, tất cả đều được xây dựng dần dần qua nhiều thế kỷ, không dựa trên bằng chứng mà chỉ dựa trên nhu cầu thần học và quyền lực của Giáo hội.

Chỉ có tôn giáo mới có khả năng làm tê liệt khả năng tư duy phê phán của con người đến mức này, biến những ý tưởng thiếu cơ sở thành "sự thật mặc khải" không thể nghi ngờ. Đó không phải là đức tin, đó là đầu hàng trước sự bịa đặt.

St

Chienslambao.blogspot.com






Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

JESUS CÓ PHẢI LÀ MỘT NHÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VĨ ĐẠI NHƯ NHIỀU NGƯỜI TỪNG NGHĨ?

 Nhiều người không theo Kitô giáo vẫn thường thừa nhận "Chúa" Jesus là một nhà giáo dục vĩ đại và tấm gương đạo đức, dù họ không tin ông là Con Thiên Chúa hay đã phục sinh. Đây là sự nhượng bộ phổ biến trước hình ảnh lý tưởng mà Kitô giáo đã xây dựng và lan tỏa suốt hai thiên niên kỷ. Tuy nhiên, khi đọc kỹ các sách Phúc Âm một cách trung thực, không né tránh, chúng ta thấy rõ Jesus có nhiều lời dạy và hành động khắc nghiệt, cực đoan, thậm chí đáng báo động theo chuẩn mực đạo đức hiện đại.

Ông dạy môn đồ phải ghét gia đình (Luca 14:26), đến để chia rẽ gia đình bằng "gươm giáo" chứ không phải hòa bình (Ma-thi-ơ 10:34-36), đòi hỏi yêu ông hơn cả cha mẹ, vợ con (Ma-thi-ơ 10:37), khuyến khích bỏ nhà cửa gia đình để theo ông (Ma-thi-ơ 19:29), cư xử lạnh lùng với chính mẹ và anh em mình (Ma-thi-ơ 12:47-50), thờ ơ với nỗi đau mất cha của người khác (Ma-thi-ơ 8:21-22), ngăn cản hôn nhân (Luca 20:35), khuyến khích tự chặt tay chân móc mắt để tránh tội (Ma-thi-ơ 5:29-30; 18:8-9), thậm chí tự thiến vì Nước Trời (Ma-thi-ơ 19:12). Ông tán thành luật Cựu Ước nên giết con cái chửi mắng cha mẹ (Ma-thi-ơ 15:4), chấp nhận toàn bộ luật Cựu Ước (Ma-thi-ơ 5:17), đe dọa tra tấn vĩnh cửu cho kẻ không tin (Ma-thi-ơ 25:46; 10:28), kết án cả thành phố phải chết thảm và địa ngục vì không nghe giảng (Ma-thi-ơ 11:21-24), gọi cả thế hệ là "dòng dõi rắn độc" (Ma-thi-ơ 12:34), và nhiều điều khác từ tán thành tra tấn (Ma-thi-ơ 18:34-35), niềm tin vào ma quỷ (Ma-thi-ơ 12:43-45), phân biệt chủng tộc (Ma-thi-ơ 15:26), tán thành nô lệ (Luca 12:47), đến giết 2000 con heo (Ma-thi-ơ 8:30-32), nguyền rủa cây vả (Ma-thi-ơ 21:19), và đe dọa giết trẻ em hay hàng tỷ người trong Khải Huyền (Khải Huyền 2:23; 14:14-20)....

Một tách cà phê có thơm ngon, đậm đà đến đâu thì chỉ một con ruồi chết trong đó cũng đủ khiến toàn bộ trở nên hôi thối, khó nuốt. Giả sử Jesus là nhân vật lịch sử, ông rõ ràng bị giới hạn bởi tư duy tôn giáo cực đoan của thời đại mình. Đã đến lúc nhìn nhận ông khách quan, không bị mê hoặc bởi truyền thống, để thấy rằng ông không phải là tấm gương đạo đức lý tưởng mà nhiều người vẫn tưởng tượng và ca tụng.

St

Chienslambao.blogspot.com




CHÚA CÒN NHỚ HAY CHÚA ĐÃ QUÊN?

 1. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn năng và yêu thương con cái Ngài như cha mẹ yêu con, tại sao Ngài lại để ngọn lửa thiêu sống ba mẹ con trong cơn đau đớn kinh hoàng thay vì chỉ cần một phép lạ nhỏ để dập tắt đám cháy hoặc mở lối thoát?

2. Khi người mẹ và hai đứa trẻ đang cầu nguyện mỗi tối, tại sao lời cầu xin bảo vệ của họ lại không được đáp lời, trong khi chính Kinh Thánh hứa rằng “hễ xin thì sẽ được”?

3. Thiên Chúa có biết trước vụ cháy này từ đời đời không? Nếu có, tại sao Ngài không ngăn chặn từ đầu, mà lại chọn để ba mạng người vô tội bị chết ngạt và bỏng trong tuyệt vọng?

4. Nếu đây là “ý định tốt lành” của Thiên Chúa (như nhiều tín hữu thường nói “mọi sự xảy ra đều có lý do”), thì lý do tốt lành gì đáng để một đứa trẻ 6 tuổi và một thiếu nữ 14 tuổi phải chết cháy thay vì sống tiếp?

5. Tại sao Thiên Chúa lại im lặng và không can thiệp, trong khi Ngài từng được mô tả là đã làm phép lạ xẻ biển, khiến tường thành sụp đổ, chữa lành người mù, thậm chí làm người chết sống lại?

6. Nếu cầu nguyện có sức mạnh thật sự, tại sao hàng triệu tín hữu Kitô giáo trên thế giới cầu nguyện mỗi ngày cho sự bảo vệ, nhưng vẫn có hàng ngàn trẻ em Kitô giáo chết trong hoả hoạn, động đất, tai nạn mỗi năm?

7. Người chồng/bố đi vắng và sống sót, liệu có phải Thiên Chúa đã “chọn” cứu riêng ông ấy và bỏ mặc vợ con, hay chỉ là ngẫu nhiên thuần tuý mà không có bàn tay thần thánh nào?

8. Nếu linh hồn ba mẹ con giờ đang “yên nghỉ trong Chúa” ở thiên đàng, vậy tại sao Thiên Chúa không để họ đến đó một cách nhẹ nhàng (bệnh tật, già cả) thay vì phải trải qua nỗi kinh hoàng bị lửa thiêu sống?

9. Kinh Thánh dạy rằng Thiên Chúa quan phòng từng sợi tóc trên đầu chúng ta, vậy sợi tóc nào trên đầu ba mẹ con khiến Ngài quyết định để họ chết trong đám cháy này?

10. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, tại sao tình yêu ấy lại cho phép (hoặc gián tiếp gây ra) cảnh một người mẹ bất lực nhìn con mình ngạt khói và cháy đen ngay trước mắt?

11. Hàng xóm và lính cứu hoả đã cố gắng hết sức nhưng thất bại, vậy Thiên Chúa, Đấng được cho là mạnh hơn mọi lực lượng con người, tại sao lại để con người phải bất lực trong khi Ngài hoàn toàn có thể cứu?

12. Liệu có phải niềm tin rằng “Chúa sẽ không để điều gì xảy ra nếu không có lý do” chỉ là cách tự an ủi tâm lý, chứ thực tế không có bất kỳ bằng chứng khách quan nào cho thấy sự can thiệp thần thánh trong những thảm kịch như thế này?

13. Nếu Thiên Chúa thực sự nghe lời cầu nguyện của người công chính, tại sao gia đình tín hữu này, những người sống đạo đức, hiền lành theo lời kể hàng xóm lại không được bảo vệ, trong khi rất nhiều kẻ ác vẫn sống thọ và bình an?

St

Chienslambao.blogspot.com







Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

ĐỜI NGƯỜI SỐNG ĐƯỢC BAO LÂU?


Trong một lần đi thuyết giảng, Đức Phật đã đến một nơi rất xa xôi. Trên đường đi, Ngài cùng với các môn đồ của mình đã được chứng kiến biết bao cảnh đời, người giàu có, kẻ nghèo có, người khỏe mạnh có, người đau yếu cũng có. Đó vốn là những thứ tất yếu tồn tại trên cõi đời, nhưng khi tận mắt chứng kiến, mới thật xót xa.

Đi bộ nhiều ngày khiến đôi chân của họ trở nên chai cứng, nhức mỏi, thậm chí là đau đớn. Họ quyết định nghỉ lại giữa đường. Khi ngồi dưới bóng của một cái cây lớn, Đức Phật bất ngờ hỏi một môn đồ ngồi gần nhất, là một Shramana (nhà sư, tu sĩ khổ hạnh) rằng, "Đời người dài bao lâu?".

Bất ngờ trước câu hỏi của Đức Phật, môn đồ này chẳng kịp suy nghĩ gì, đã trả lời rất nhanh như một phản xạ: "Thưa Đức Phật, đời người có lẽ dài được vài chục năm, nếu người nào sống thọ thì có lẽ được hơn như thế một chút".

 Đức Phật hỏi Đời người dài bao lâu, câu trả lời của 1 môn đồ khiến nhiều người giật mình - Ảnh 1.

Đức Phật hỏi các môn đồ, "Đời người dài bao lâu?", mỗi người lại đưa ra một đáp án khác nhau. (Ảnh minh họa)

Đức Phật nói, "Vậy là ngươi chưa hiểu gì rồi". Sau đó, Đức Phật lại hỏi một môn đồ khác, người này trả lời rằng, "Thưa Đức Phật, chẳng phải ai cũng có thể sống được tới vài chục năm. Có những người chỉ sống được vài năm mà thôi". Đức Phật vẫn nói, "Chưa đúng".

"Vậy vài tháng?"…

"Vài tuần?"…

"Vài ngày?"…

Đức Phật trả lời: "Các ngươi chưa hiểu gì về Phật pháp rồi". Cuối cùng, chỉ còn lại một môn đồ im lặng từ lúc đầu đến giờ. Đức Phật nhìn anh ta, rồi hỏi, "Còn ngươi, ngươi nghĩ đời người dài bao lâu?".

Người này nhìn Đức Phật, lễ phép nói: "Thưa Đức Phật, con nghĩ đời người chỉ dài bằng một hơi thở mà thôi".

Đức Phật gật gù: "Đúng vậy ông là người hiểu đạo, đời người chỉ tính bằng hơi thở".

Chienslambao.blogspot.com




CHỦ NGHĨA VÔ THẦN CÓ NHÂN VĂN ĐẠO ĐỨC KHÔNG?

 Chủ nghĩa vô thần không phải là một tôn giáo, mà là sự phủ nhận triệt để mọi hình thức tôn giáo có tổ chức và giáo điều. Nó không phải là một hệ thống tín ngưỡng hay tổ chức có quyền lực, nên không tồn tại “giáo lý vô thần” nào dạy dỗ về đạo đức hay phi đạo đức. Chủ nghĩa vô thần đơn giản chỉ là sự thiếu vắng niềm tin hoặc chủ động từ chối vào sự tồn tại của bất kỳ vị thần nào.

Khi con người buông bỏ niềm tin vào Thượng đế, họ cũng không còn chấp nhận các quy tắc đạo đức chỉ vì chúng được “mặc khải” từ kinh sách hay uy quyền tôn giáo. Thay vào đó, đạo đức ở người vô thần thuộc vào lý trí, kinh nghiệm nhân loại và sự đồng thuận xã hội.

Hãy suy ngẫm thực tế: dù các tôn giáo đều tuyên bố có một Thượng đế tối cao, nhưng mỗi tôn giáo lại mang đến những bộ quy tắc đạo đức khác biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau. Điều này không chỉ gây chia rẽ giữa các cộng đồng, mà còn tạo ra xung đột nội tâm sâu sắc trong chính mỗi cá nhân, khi họ phải chọn giữa lòng trung thành với đức tin và lương tri nhân bản.

Người vô thần chọn con đường đạo đức dựa trên cơ sở lý trí và bằng chứng: tuân thủ luật pháp của xã hội hiện đại, đồng thời ôm lấy các giá trị nhân văn phổ quát – tình yêu thương, lòng trắc ẩn, sự công bằng, trung thực và tôn trọng lẫn nhau. Họ không nói dối, không trộm cắp, không bạo lực, không phân biệt, kỳ thị giới tính không phải vì sợ bị thần thánh phạt, mà vì nhận thức rõ rằng những hành vi ấy gây tổn thương thực sự cho người khác và làm suy yếu chính nền tảng của xã hội mà họ đang sống. Một người vô thần sẽ không chấp nhận sự bất bình đẳng giới tính được biện minh bằng tôn giáo, chẳng hạn như chế độ đa thê một chiều, vì nó rõ ràng vi phạm nguyên tắc bình đẳng và nhân phẩm.

Điều quan trọng hơn: chính vì không tin có một đấng tối cao sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi qua nghi lễ hay sám hối, người vô thần mang trong mình ý thức trách nhiệm tuyệt đối với hành động của mình. Họ hiểu rằng hậu quả của cái ác là thực tại, không phải nằm ở đời sau, mà ngay trong cuộc đời này, trong lương tâm, trong mối quan hệ và trong xã hội. Ngược lại, niềm tin vào sự tha thứ vô điều kiện từ Thượng đế lại tạo ra kẽ hở tâm lý, khiến con người dễ dàng biện minh cho hành vi sai trái, với hy vọng “sẽ được rửa sạch” qua nghi thức.

Tôn giáo, dù mang lại ý nghĩa, mối quan hệ cộng đồng, sự an ủi cho nhiều người, nhưng lại có khả năng đáng sợ: làm mờ lý trí của cả những trí thức xuất sắc, và biến những con người lương thiện thành hung bạo khi họ nhân danh Thượng đế để kỳ thị, căm ghét hay thậm chí tàn sát những ai tin khác. Lịch sử nhân loại đầy những bi kịch như vậy từ chiến tranh tôn giáo đến bạo lực cực đoan ngày nay.

Chủ nghĩa vô thần, ở bản chất tốt đẹp nhất, là lời kêu gọi sống bằng lý trí và bằng chứng. Nó khuyến khích chúng ta không tin bất cứ điều gì chỉ vì truyền thống, uy quyền hay số đông, mà phải tự mình quan sát, phân tích và kiểm chứng. Triết lý này được thể hiện sâu sắc qua lời dạy nổi tiếng của ông Phật:

“Đừng tin điều gì chỉ vì nghe nói. Đừng tin chỉ vì nhiều người nói. Đừng tin chỉ vì nhìn thấy trong kinh sách. Đừng tin chỉ vì thầy dạy hay người lớn tuổi bảo. Đừng tin chỉ vì truyền thống lâu đời. Nhưng sau khi tự mình quan sát, phân tích, thấy điều đó hợp lý, mang lại lợi ích và hạnh phúc cho bản thân lẫn mọi người, thì hãy chấp nhận và sống theo.”

Đáng tiếc, chính triết lý lý trí ấy đã bị biến dạng khi ông Phật bị phong thần thánh và Phật giáo trở thành tôn giáo với nghi lễ phức tạp, đôi khi xa rời tinh thần ban đầu.

Nhưng lịch sử đang chuyển động. Nhân loại ngày càng tiến bộ nhờ khoa học, giáo dục và tư duy phê phán. Các quốc gia có tỷ lệ người vô thần, bất khả tri hoặc không theo tôn giáo cao nhất thường nằm trong nhóm phát triển nhất, bình đẳng nhất và hạnh phúc nhất thế giới. Theo các khảo sát gần đây (2023–2025), Trung Quốc dẫn đầu với khoảng 90–91% dân số không theo tôn giáo hoặc vô thần; Nhật Bản khoảng 86%; Thụy Điển khoảng 78%; Czech Republic khoảng 75%; cùng với Đan Mạch, Na Uy, Việt Nam và nhiều nước Bắc Âu khác có tỷ lệ không tôn giáo rất cao (thường trên 50–70%).

Những quốc gia này, đặc biệt các nước Bắc Âu như Phần Lan (liên tục đứng đầu), Đan Mạch, Thụy Điển, Iceland, Na Uy thống trị bảng xếp hạng hạnh phúc thế giới (World Happiness Report 2025), với chỉ số cao về lòng tin xã hội, bình đẳng giới, phúc lợi, tự do cá nhân và chất lượng cuộc sống. Họ chứng minh rằng một xã hội có thể đạo đức, nhân văn và thịnh vượng mà không cần dựa vào niềm tin siêu nhiên.

Xu hướng toàn cầu rõ ràng: khi tôn giáo suy giảm và lý trí, khoa học lên ngôi, con người không trở nên vô đạo đức ngược lại, xã hội thường trở nên công bằng, an toàn và nhân ái hơn. Tương lai có lẽ sẽ chứng kiến chủ nghĩa vô thần không còn là thiểu số, mà trở thành nền tảng phổ biến của nhân loại tiến bộ, nơi đạo đức xuất phát từ sự thấu hiểu và đồng cảm thực sự, chứ không từ nỗi sợ hãi hay hy vọng phần thưởng thiêng liêng.

# Clip đoàn 19 nhà sư mang theo thông điệp hòa bình đã đến Richmond vào thứ Hai, ngày thứ 100 trong cuộc hành trình đi bộ từ Texas đến Washington D.C. Văn phòng thị trưởng ước tính có khoảng 10.000 người đứng dọc tuyến đường đi qua thành phố.

https://www.facebook.com/share/p/1AHtQsVvJ7/

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

ĐAU KHỔ LÀ MỘT MÓN QUÀ CỦA CHÚA BAN TẶNG CHO TÍN ĐỒ.

 Bà "Mother" Teresa nói rằng :  “Đau khổ là một món quà từ Chúa. Nó đưa chúng ta đến gần Chúa Jesus trên thập tự giá hơn. Chấp nhận số phận của bạn với niềm vui.”

Nếu đau khổ thực sự là “món quà đẹp đẽ” từ Chúa, thì logic rất đơn giản: càng đau khổ nhiều càng tốt, vì càng gần Chúa hơn. Vậy tại sao phải cố gắng giảm đau? Tại sao phải đầu tư vào thuốc giảm đau, chăm sóc y tế hiện đại? Quan điểm này dễ dẫn đến việc không chữa trị triệt để, thậm chí coi việc giảm đau là chống lại ý Chúa. Nó không còn là chấp nhận thập giá theo ý niệm Kitô giáo truyền thống, mà trở thành tôn thờ đau khổ có hệ thống.

Thế nhưng chính Teresa lại không sống theo lời mình nói. Khi bà bị bệnh tim, bà đến bệnh viện hiện đại ở Mỹ và châu Âu, nhận morphine, phẫu thuật, chăm sóc tốt nhất. Còn ở Nhà Thương của bà tại Calcutta, bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối thường chỉ được cho aspirin (nếu có), kim tiêm tái sử dụng, điều kiện vệ sinh kém, đau đớn kéo dài không được giảm nhẹ đúng mức. Nếu đau khổ là “món quà”, sao bà lại từ chối món quà đó cho chính mình? Đây là sự đạo đức giả rõ ràng: món quà thiêng liêng đáng khinh đó chỉ dành cho người nghèo, người yếu thế; còn người có quyền lực thì được miễn trừ.

Hậu quả thực tế thì đau lòng. Nhiều nhân chứng,bác sĩ, tình nguyện viên, nhà báo như Aroup Chatterjee mô tả các Nhà Thương của Missionaries of Charity giống nơi tôn vinh đau khổ hơn là chữa trị: bệnh nhân quằn quại, thiếu morphine dù tiền quyên góp khổng lồ, điều kiện kém đến mức dễ lây nhiễm thêm bệnh. Chatterjee gọi đó là “cult of suffering” – một giáo phái tôn thờ đau khổ. Mục tiêu dường như không phải cứu mạng sống hay giảm đau, mà là để họ chịu đau như Jesus, nhằm “cứu linh hồn”. Kết quả: hàng ngàn người chết trong đau đớn không cần thiết.

Hơn nữa, khi bà nói “có điều gì đó rất đẹp khi thấy người nghèo chấp nhận số phận, chịu đựng như cuộc khổ nạn của Chúa”, bà đã làm đẹp hóa nghèo đói và bất công. Giới giàu có, chính trị gia, doanh nhân cảm thấy an ủi lương tâm khi quyên góp, mà không cần đặt câu hỏi tại sao hệ thống xã hội vẫn đẩy người ta vào nghèo khổ. Christopher Hitchens từng gọi đây là cách giúp người giàu cảm thấy “được cứu rỗi” mà không phải thay đổi gì cả, nó giữ người nghèo ở vị trí nạn nhân thiêng liêng, thay vì trao quyền để họ thoát nghèo.

Không ai, được phép áp đặt diễn giải thần học lên nỗi đau của người khác, rồi dùng nó để biện minh cho việc không làm hết sức để giảm đau khổ. Đau khổ phần lớn đến từ bệnh tật, nghèo đói, bất công ...những thứ con người có khả năng giảm bớt đáng kể nhờ y học, tiến bộ và công bằng xã hội. Gọi chúng là “món quà” chẳng khác gì bảo: “Đừng chữa ung thư, cứ để họ chịu đau, Chúa đang hôn họ đấy”.


Một xã hội văn minh không tôn vinh đau khổ mà phải dốc hết sức giảm thiểu nó, bằng khoa học, y tế và lòng trắc ẩn thực sự. Nỗi đau của con người không phải món quà, nó là điều cần được chữa lành, xoa dịu, và xóa bỏ khi có thể.

St

Chienslambao.blogspot.com




SỰ DỐI TRÁ ĐƯỢC CHE ĐẬY PHÍA SAU LỚP VỎ BỌC "ĐỨC TIN"

 "Tôi không hề quay lưng lại với chúa, Giê-su hay kinh thánh. Tôi chỉ nhận ra rằng tất cả đều là những lời dối trá. Mọi chuyện đơn giản...