Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

KẺ THÙ CỦA ĐẠO THIÊN CHÚA LÀ AI?

 AI MỚI LÀ KẺ THÙ CỦA KITO GIÁO ?

Dưới đây là 4 kiểu tín đồ mà chúng ta gặp rất nhiều trong cuộc sống thường nhật:

1. "Hệ điều hành cài sẵn".

Đại đa số tín đồ sinh ra trong các gia đình có đạo đều thuộc nhóm này, họ sinh ra, được bế đi rửa tội khi mới vài tháng tuổi — thời điểm mà nhận thức còn chưa hình thành. Tôn giáo với họ không phải là một sự lựa chọn lý trí sau khi đã nghiên cứu so sánh, mà chỉ là một tập tục gia đình.

Họ đi lễ Chủ Nhật, đọc kinh hay làm các nghi thức đơn thuần vì đó là nếp sống từ nhỏ, vì bố mẹ bảo làm, hoặc để không bị coi là "đứa con bất hiếu / lập dị" trong dòng họ. Họ sống hòa đồng, làm ăn buôn bán bình thường và chẳng hơi đâu đi tranh luận hay miệt thị niềm tin của người khác.

2. Nhóm chưa từng đọc kinh thánh.

Một thực tế hài hước là số lượng tín đồ chưa từng đọc trọn vẹn bộ kinh thánh chiếm tỷ lệ cực kỳ lớn.

Mọi kiến thức tôn giáo họ có được chủ yếu qua các bài giảng của linh mục/mục sư vào cuối tuần. Những bài giảng này đương nhiên đã được chắt lọc, "gọt đẽo" và tô hồng — chỉ giữ lại các thông điệp về yêu thương, làm thiện, giúp đỡ người nghèo.

Họ hoàn toàn không biết (và cũng không quan tâm) trong cựu ước có những đoạn diệt-chủng dã man thế nào, hay các mâu thuẫn gia phả trong tân ước ra sao. Vì không biết những điều đó, họ đón nhận tôn giáo bằng một tâm thế rất trong sáng, tìm một chỗ dựa tinh thần để sống hướng thiện.

3. Tốt tính nhờ "Bản tính con người", chứ không phải nhờ giáo lý.

Nhiều người có đạo sống cực kỳ tử tế, bao dung và hay giúp đỡ người khác. Sự tử tế của họ đến từ lòng tốt, sự thấu cảm là thuộc tính tâm lý sẵn có của con người, xuất hiện ở cả người có đạo, người vô thần lẫn người theo Phật giáo.

Tôn giáo lúc này chỉ đóng vai trò là một "môi trường" hoặc "cái cớ" để họ thực hành lòng tốt đó (như đi làm từ thiện, quyên góp cho người nghèo qua nhà thờ).

4. Kẻ gây hấn luôn là kẻ tạo ra định kiến.

Người ngoài xã hội hay cộng đồng mạng không đánh giá một tập thể dựa trên 90% những người im lặng sống tốt, mà họ sẽ đánh giá dựa trên 10% những kẻ nhảy chồm chồm lên đi xúc phạm người khác.

Một tín đồ bình thường đi làm từ thiện, sống chan hòa thì chẳng ai đăng báo hay làm clip gay gắt.

Nhưng chỉ cần một tay cuồng tín xông vào đập bàn thờ tổ tiên, chê Phật giáo là "thờ ma quỷ", hay đăng status lên mặt dạy đời miệt thị niềm tin dân gian... lập tức hành vi đó sẽ khắc sâu vào tâm trí công chúng. Kết quả là cả tập thể bị mang tiếng là độc đoán, vô văn hóa và thiếu tôn trọng cộng đồng.

Điểm oái ăm là những kẻ cực đoan luôn nghĩ mình là những "chiến binh của chúa", đang đi "chiến đấu cho sự thật". Sự hăng máu và cái tính "thích ăn thua đủ" của họ tạo ra tác dụng ngược hoàn toàn.

Họ tưởng làm vậy là uy nghi, là dũng cảm. Nhưng trong mắt người đời, hành vi đó chỉ thể hiện sự kém văn minh và thiếu giáo dục.

Càng hằn học trù ẻo người khác sa Địa Ngục, họ càng chứng minh cho thế giới thấy rằng cái thứ "tình yêu thương" mà họ luôn mồm rao giảng thực chất chỉ là một lớp vỏ bọc dối trá.

Lý do khiến nhóm cực đoan này càng ngày càng ngông nghênh là vì họ hiếm khi bị chính các đồng đạo của mình nhắc nhở.

Vì chung một "màu áo", nhiều tín đồ ôn hòa dù thấy chướng tai gai mắt nhưng vẫn chọn cách im lặng hoặc tặc lưỡi bỏ qua. Sự im lặng này vô tình tạo ra một khoảng trống cho những kẻ cực đoan tự do tung hoành, biến mình thành "gương mặt đại diện" bất đắc dĩ cho toàn bộ giáo hội trước công chúng.

Trong thần thoại thế giới, số lượng các vị thần tàn bạo, thích hiến tế hay đòi máu không hề thiếu:

Thần Huitzilopochtli (Aztec): Đòi mổ bụng hàng vạn tù binh để lấy tim tươi thì Mặt Trời mới chịu mọc.

Thần Moloch (Canaan cổ đại): Đòi thiêu sống trẻ em để đổi lấy mùa màng.

Các thần Hy Lạp/Norse (Zeus, Odin, Ares): Đầy rẫy sự hay ghen tuông, trả thù tàn nhẫn và coi con người như quân cờ.

Thế nhưng, dư luận chẳng ai rảnh rỗi đi chửi rủa các vị thần đó hay tín đồ của họ làm gì. Lý do đơn giản nằm ở cách ứng xử xã hội:

Các tôn giáo đa thần cổ đại mang tư duy địa phương và dân tộc: Thần của tôi bảo vệ bộ tộc tôi, thần của anh bảo vệ bộ tộc anh. Họ có thể mang quân đi đánh nhau giành đất, nhưng họ không đứng ở ngã tư đường để dạy dỗ rằng thần của người khác là ma quỷ, hay ép người dân tộc khác phải quỳ xuống thờ thần của họ thì mới được coi là "sống đạo đức".

Sự khó chịu của công hướng xã hội không bắt nguồn từ việc "vị thần của anh ác hay hiền trong thần thoại", mà đến từ hành vi xâm phạm không gian sống của người khác:

Anh tự cho mình cái quyền đại diện cho "Sự thật duy nhất", xem tất cả những ai khác biệt là "sai trái, sa ngã, tay sai ma quỷ". Anh mang loa đài ra giữa chốn công cộng, xông vào tận nhà, chê bai bàn thờ tổ tiên của gia đình người khác, miệt thị đức tin hàng ngàn năm của dân tộc bản địa.

Xã hội vận hành theo một quy luật tâm lý đơn giản: Anh tôn trọng người khác, người khác sẽ tôn trọng anh.

Anh thờ phụng một vị thần kỳ quặc hay khắc nghiệt đến đâu ở trong nhà thờ / phạm vi riêng tư của mình thì xã hội coi đó là tự do tín đồ, không ai can thiệp.

Nhưng anh MANG cái sự khắc nghiệt đó ra ngã tư đường, lên mạng xã hội để chỉ tay 5 ngón, xúc phạm niềm tin của cộng đồng thì việc bị thiên hạ hội đồng chửi rủa là kết quả hoàn toàn tự nhiên và đích đáng.

Khi hành vi "đi gây sự" bị cộng đồng phản ứng và đập lại cho vuốt mặt không kịp, thay vì tự soi lại sự vô duyên của mình, họ lập tức bật chế độ "bị bức hại" để tự an ủi.

Thiên hạ chửi rủa không phải vì vị thần trong sách kinh, mà chửi cái mặt dày, sự thiếu văn hóa và thái độ ngạo mạn của những kẻ thích đi "phát tán độc hại" giữa chốn đông người. Cho nên, kẻ thù lớn nhất làm cho kitô giáo bị xã hội ghét bỏ và chửi rủa nhiều nhất... chưa bao giờ là những người vô thần hay tôn giáo khác, mà chính là những tín đồ cuồng tín và nhân danh đức tin để đi gây sự với thiên hạ.

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

ĐẠO THIÊN CHÚA VÀ KHOÁI LẠCTÌNH DỤC

 Kitô giáo và tình dục. Giáo hội quyết định rằng ham muốn là việc của ma quỷ và điều duy nhất thánh thiện mà bạn có thể làm trên giường là cầu nguyện.Nên chúng ta có hàng thế kỷ các giáo sĩ độc thân bảo mọi người khác rằng vài lần ân ái ngon lành sẽ đưa bạn vào hố lửa địa ngục vĩnh cửu. Chào mừng đến với truyền thống lớn lao của Giáo hội về đàn áp tình dục, nơi bất cứ thứ gì hơi thú vị đều bị gắn mác “tội lỗi”.


Hãy bắt đầu với sự ám ảnh về trinh tiết, thứ trở thành đức hạnh tối thượng thời Trung Cổ. Trinh tiết không chỉ được khuyến khích mà nó được thần tượng hóa đến mức thành thánh. Họ biến Maria thành Mẹ Đồng Trinh, hình mẫu tối thượng, tiện thể quên rằng bà đã sinh con. Mỗi bài thuyết giáo thời trung cổ gần như là một bài giảng về sự trong sạch, và nhà thờ nói rõ: bất kỳ gợi ý nào về dục vọng, bất kỳ lời thì thầm nào về ham muốn, thì bạn sẽ có vé đi một chiều đến hố lửa.


Họ biến sự tiết dục thành tiếng gọi cao quý nhất, phớt lờ thực tế hiển nhiên của con người: người ta thích tình dục. Nhưng thay vì thừa nhận đó là một phần tự nhiên của cuộc sống, họ bóp méo nó thành tội lỗi. Trinh tiết trở thành một hợp đồng trong sạch mà chẳng ai thực sự ký nhưng ai cũng bị ràng buộc, tạo ra vòng tuần hoàn của xấu hổ, phủ nhận và xưng tội. 


Và rồi còn cả lời thề độc thân, thứ bằng cách nào đó biến từ lựa chọn lối sống thành mệnh lệnh tôn giáo. Nhà thờ quyết định rằng linh mục, tu sĩ và nữ tu phải kiêng tình dục hoàn toàn, như thể phủ nhận mọi thôi thúc của con người sẽ khiến họ gần Chúa hơn. Đây ít phải là lời kêu gọi trong sạch mà hơn là sự tự phủ nhận được thể chế hóa. Về cơ bản, họ bảo giáo sĩ của mình: “Nếu muốn làm việc cho chúng tôi, hãy khóa libido ( ham muốn tình dục) lại và vứt chìa khóa đi.” Và thực tế chỉ dẫn đến một số giáo sĩ rất thất vọng. Đậy nắp ham muốn con người giống như cố gắng bịt nút một ngọn núi lửa, và chúng ta đều biết chuyện gì xảy ra tiếp theo: những bê bối tai tiếng, che đậy, và hàng thế kỷ đạo đức giả nơi nhà thờ rao giảng một đằng và lặng lẽ làm điều khác.


Đây là trò lừa lớn nhất của nhà thờ: biến tình dục thành nghĩa vụ, không phải khoái cảm. Nếu bạn đã kết hôn, bạn có thể quan hệ tình dục để sinh sản. Còn lại? Thì bạn tốt hơn nên quỳ xuống và cầu xin sự tha thứ. Họ biến tình dục thành nghĩa vụ để tạo ra em bé, tước đi mọi khả năng hưởng thụ. Khoái cảm gần như là tội ác, một bí mật bẩn thỉu mà chẳng ai được phép nói đến. Chúa trời cấm bạn thực sự tận hưởng bản thân trong năm phút.


Và nếu bạn dám khám phá bất cứ thứ gì hơi “không theo quy ước”? Đó là tấm vé thẳng đến sự đày đọa. Thủ dâm, đồng tính luyến ái, tình dục trước hôn nhân, các tư thế kì quặc... mỗi thứ trở thành một hạng mục tội trọng riêng, như Mười Điều Răn có thêm phần phụ lục nhỏ vậy. Giáo hội thích giám sát hành vi phòng ngủ hơn cả khi có hệ thống ống nước trong toalet vậy. Họ đảm bảo rằng tình dục là thứ phải xấu hổ, và kết quả là mọi người lớn lên với quá nhiều đàn áp đến mức không thể nhìn chính mình khỏa thân mà không tự hỏi liệu mình có bị xuống hỏa ngục vì nó không.

Xưng tội trở thành một kiểu đối phó cho bất kỳ ai chỉ hơi có libido. Nghĩ điều gì không trong sạch? Đó là tội. Hứng tình? Lại một tội nữa. Về cơ bản, bạn cần phải chạy đến nhà thờ mỗi khi hormone này nháy mắt. Đó là cách của nhà thờ để giữ mọi người trong vòng tuần hoàn liên tục của tội lỗi và ăn năn. Phạm tội, xưng tội, ăn năn, lặp lại giống như một máy chạy bộ của sự xấu hổ.

Và xưng tội cũng là cách của nhà thờ để biết mọi chi tiết nghịch ngợm trong đời sống riêng tư của mọi người. Họ đang vận hành một chiến dịch giám sát mà không cần cơ quan tình báo. Bạn xưng tội, và họ đưa ra việc đền tội, đảm bảo bạn vẫn xấu hổ về cơ thể và ham muốn của chính mình. Họ đảm bảo bạn chẳng bao giờ cảm thấy tốt về bản thân, điều này, trùng hợp thay, giữ bạn quay lại để được xá tội thêm.

Sự ám ảnh của nhà thờ với sự trong sạch tình dục để lại dấu ấn vẫn còn đến ngày nay. Trong nhiều thế kỷ, mọi người sợ hãi chính cơ thể mình, xấu hổ về những thôi thúc tự nhiên, và tin rằng ngay cả nghĩ về tình dục cũng sẽ khiến họ bị trừng phạt. Cả xã hội lớn lên với ý tưởng rằng khoái cảm là sai, ham muốn là nguy hiểm. Nó tạo ra một văn hóa xấu hổ ăn sâu đến mức mọi người không thể nói về tình dục mà không nhăn mặt.

Nhà thờ thực sự đã tạo ra các thế hệ tín đồ bị đàn áp tình dục, đầy tội lỗi, quá sợ để tận hưởng bản thân và quá xấu hổ để thừa nhận. Và trong suốt thời gian đó, giáo sĩ giả vờ đứng trên tất cả, trong khi bí mật thỏa mãn chính những thứ họ lên án. 

Sự ám ảnh của nhà thờ với đàn áp tình dục không chỉ là về việc thực thi sự trong sạch, nó là về quyền lực, đơn giản vậy thôi. Bằng cách kiểm soát thôi thúc cơ bản nhất của con người, nhà thờ đảm bảo nó nắm giữ tâm trí, cơ thể và tinh thần của mọi tín đồ. Đàn áp trở thành vũ khí thần thánh, cách duy trì quyền lực trên đời sống riêng tư nhất của mọi người, ngay cả khi họ không ở trong ghế nhà thờ. Nhà thờ biết rằng nếu có thể khiến bạn cảm thấy xấu hổ về bản thân, xấu hổ về chính cơ thể mình nó có thể giữ bạn phục tùng, tội lỗi, và mãi mãi chạy về nhà thờ để được tha thứ.

Vậy nó đạt được gì? Các thế hệ sống dưới bóng tối của sự xấu hổ, tin rằng ham muốn tự nhiên là con đường đến sự đày đọa, trong khi nhà thờ kiếm tiền từ mọi lần xưng tội. Kết quả là di sản của tội lỗi và đàn áp mà chúng ta vẫn đang cố gắng gạt bỏ, một học thuyết biến tình dục thành thứ bẩn thỉu và khoái cảm thành tội lỗi. Và trong một nước cờ mỉa mai bậc thầy này, chính tổ chức rao giảng sự kiềm chế thường thất bại trong việc thực hành những gì nó áp đặt, tạo ra những bê bối và đạo đức giả vẫn vang vọng đến ngày nay.

* Tranh minh họa: Quỷ dữ trong phòng ngủ, trích từ cuốn Bible Moralisée (Kinh Thánh được diễn giải bằng hình ảnh). Thế kỷ 15. Bộ sưu tập: Thư viện Quốc gia Pháp (BnF), Paris.

 Kitô giáo đã chuyển giao hình hài của vị thần mang nửa thân người nửa dê của Hy Lạp cổ đại (Thần Pan) sang cho hình tượng quỷ dữ.

Tại châu Âu thời Trung cổ, Giáo hội Công giáo kiểm soát chặt chẽ đời sống phòng the của các cặp vợ chồng. Mục đích duy nhất được chấp nhận và coi là chính đáng của quan hệ tình dục là sinh con đẻ cái. Mọi hành động thân mật chỉ nhằm mục đích khoái lạc đều bị coi là tội lỗi. Hơn nữa, theo lịch phụng vụ của Giáo hội, việc quan hệ tình dục bị cấm vào các ngày Chủ nhật, thứ Tư và thứ Sáu, cũng như vào các ngày lễ kính thánh, Mùa Vọng và Mùa Chay. Theo quan niệm tôn giáo, những cặp đôi quan hệ vào các ngày cấm kỵ hoặc chỉ vì khoái lạc thay vì mục đích sinh sản được coi là đang mời gọi quỷ dữ bước thẳng vào giường ngủ của chính mình.

St

Chienslambao.blogspot.com






Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

KHÔNG CÓ BẰNG CHỨNG SỬ LIỆU KHÁCH QUAN NÀO VỀ SỰ KIỆN JESUS PHỤC SINH TỪ CÕI CHẾT.


NHỮNG QUYỂN "TIN MỪNG" TÂN ƯỚC TƯỜNG THUẬT VỀ CUỘC ĐỜI CỦA GIÊSU-MỘT ANH CHÀNG DO THÁI ĐƯỢC SÁNG TÁC BẰNG TIẾNG HY LẠP VÀO KHOẢNG NĂM 70-95 CN.

https://www.bartehrman.com/when-was-the-first-bible-written/

Tác giả: sử gia Marko Marina, Ph.D.

🧠 TÓM TẮT: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH KINH THÁNH KITÔ GIÁO


1. Cựu Ước (Kinh Thánh Do Thái):

 • Các phần sớm nhất như Isaiah, Amos ra đời thế kỷ VIII TCN.

 • Sách Daniel viết muộn nhất, khoảng thế kỷ II TCN.

 • Đây là nền tảng tôn giáo của người Do Thái, sau này được Kitô giáo vay mượn làm “Cựu Ước”.


2. Tân Ước:

 • Ra đời nhanh hơn, chỉ trong vòng 70 năm sau khi Giêsu chết (khoảng năm 30 CN).

 • Các thư của Phaolô: 49–62 CN.

 • Các Phúc Âm (Matthew, Mark, Luke, John): 70–95 CN, viết bằng tiếng Hy Lạp, không phải Do Thái.

 • Các tác giả Phúc Âm không phải là chính các tông đồ — đây là nhận định của đa số học giả hiện đại.


3. Lý do dùng tiếng Hy Lạp:

Kitô giáo ban đầu là một nhóm nhỏ người Do Thái và dân ngoại rải rác khắp Địa Trung Hải, nên họ dùng ngôn ngữ phổ biến thời đó — tiếng Hy Lạp.

Tân Ước dựa vào bản dịch tiếng Hy Lạp của Kinh Thánh Do Thái (bản Septuagint), dẫn đến nhiều hiểu sai nguyên bản, ví dụ chuyện “trinh nữ sinh con” trong Isaiah 7:14.


4. Quá trình chép tay & sai lệch:

 • Không có bản gốc nào của Kinh Thánh còn tồn tại.

 • Mọi bản hiện nay đều là bản sao chép lại (có lỗi hoặc cố ý chỉnh sửa).

 • Ví dụ: đoạn Giêsu đổ mồ hôi máu (Luca 22:43–44) bị thêm vào sau, nhằm chống lại thuyết Docetism (cho rằng Giêsu không thật sự có thân xác con người).


5. Từ cuộn sang sách (Codex):

 • Ban đầu viết trên cuộn giấy cói, sau đó Kitô hữu tiên phong dùng sách chép tay (codex) — tiện hơn, rẻ hơn.

 • Các bản thảo Kinh Thánh gần hoàn chỉnh sớm nhất là từ thế kỷ IV CN, gồm:

 1. Codex Vaticanus

 2. Codex Sinaiticus

 3. Codex Alexandrinus

 4. Ephraemi Rescriptus


6. In ấn và bản dịch:

 • Máy in ra đời thế kỷ XV giúp hạn chế sai lệch khi sao chép.

 • Bản King James Version (KJV) được ủy quyền năm 1604, in năm 1611, trở thành bản dịch tiếng Anh có ảnh hưởng lớn nhất trong văn hóa phương Tây.



🔍 KẾT LUẬN


Kinh Thánh Kitô giáo không “rơi từ trời xuống” mà là tập hợp nhiều văn bản rời rạc, được viết, biên tập và sao chép qua nhiều thế kỷ.

 • Cựu Ước: thế kỷ VIII–II TCN

 • Tân Ước: 49–120 CN

 • Bản hoàn chỉnh đầu tiên: thế kỷ IV CN

 • Bản in phổ biến nhất: King James, 1611


👉 Tóm lại: “Kinh Thánh đầu tiên” không phải một cuốn sách duy nhất, mà là kết quả của hàng trăm năm biên soạn, dịch thuật và chỉnh sửa.

St

Chienslambao.blogspot.com













Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

TẠI SAO LINH MỤC BỎ CHẠY KHỎI CUNG THÁNH KHI ĐANG LÀM THÁNH LỄ THIÊNG LIÊNG?

 Động đất, thấy cảnh một linh mục đang làm thánh lễ bỗng bỏ chạy thục mạng, bỏ lại bàn thờ và cả “sự hiện diện của Chúa” phía sau. Cảnh tượng ấy hài hước và trần trụi: ngay cả người được cho là gần gũi nhất với đấng tối cao cũng không dám đứng vững trước một cú rung nhẹ của vỏ Trái Đất. Đó chính là khoảnh khắc tôn giáo bị thực tế tát thẳng vào mặt.

Những người viết Kinh Thánh họ sống ngay trên vành đai địa chấn. Trung Đông nằm trên một trong những vành đai địa chấn quan trọng nhất thế giới, vành đai Alpide (còn gọi là vành đai Địa Trung Hải–Himalaya). Họ chứng kiến núi rung, đất nứt, nhà sập thường xuyên đến mức không thể không “giải thích”. Và cách giải thích duy nhất họ có là: Chúa đang giận. Không phải mảng kiến tạo Ấn-Úc đang cọ sát với mảng Á-Âu. Không phải năng lượng tích tụ hàng trăm năm được giải phóng trong vài chục giây. Mà là một ông Chúa trên trời đang cáu kỉnh vì loài người đang làm điều gì ông ta thấy khó chịu!

Hãy xem họ viết gì:

Sách Job 9:5-6 – Chúa nhấc núi lên như nhấc cái ghế, làm cột trụ Trái Đất run rẩy vì cơn giận.  

Thực ra là: núi đang bị nén và trượt theo quy luật cơ học, chẳng cần ai “giận” cả.

Thánh vịnh 18:7, 77:18, 97:4-5 – Đất run vì Chúa giận, núi chảy như sáp trước mặt Ngài.  

Dịch ra là “Chúng tôi không hiểu địa chấn học, nên đổ hết cho Chúa trời.”

Sãh Isaiah, Jeremiah, Ezekiel, Nahum… tất cả đều lặp lại cùng một công thức: động đất = sự hiện diện đáng sợ của Chúa. Người ta chạy vào hang đá không phải vì sợ sóng địa chấn, mà vì sợ “vinh quang của Ngài”. Nghe vừa bi tráng vừa ấu trĩ.

Đến tận Tân Ước, Hebrews 12 vẫn còn đe dọa: lần trước Chúa chỉ lắc Trái Đất, lần sau Ngài sẽ lắc cả trời. Như thể vũ trụ là một cái lồng ấp mà ông Chúa đang ngồi trên đó dọa trẻ con.

Cứ mỗi lần mặt đất rung, người xưa lại ngồi đoán: lần này Chúa giận vì tội gì đây? Ăn thịt heo? Nói xấu Chúa? Hay chỉ đơn giản là hoài nghi Chúa tồn tại? Và đến tận ngày nay, sau khi khoa học đã giải mã gần như toàn bộ cơ chế động đất, bão, dịch bệnh, vẫn còn rất nhiều người nghiêm túc tuyên bố rằng Chúa đang trừng phạt vì LGBT, vì phá thai, vì sự phát triển của chủ nghĩa vô thần...vì không đủ tiền quyên góp. Họ nhìn thấy một linh mục bỏ chạy trong thánh lễ rồi vẫn cố gắng giải thích rằng đó là “thử thách đức tin”, chứ không phải là phản xạ sinh tồn bình thường của một sinh vật hữu cơ trước nguy hiểm vật lý.

Điều này nói lên một sự thật đơn giản: tôn giáo, ít nhất ở tầng giải thích hiện tượng tự nhiên, chính là sản phẩm của sự bất lực nhận thức. Khi không hiểu, người ta bịa ra Chúa trời. Khi sợ, người ta quy cho Chúa trời. Khi muốn kiểm soát người khác, người ta mượn miệng Chúa trời. Và mỗi lần Trái Đất chỉ cần rùng mình một cái, cả hệ thống giải thích ấy lại lộ ra sự mỏng manh đến mức một linh mục cũng phải mất dép.😁🤭

St

https://www.facebook.com/share/p/1Bw4F68quZ/

Chienslambao.blogspot.com






Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

GÁI ĐỒNG TRINH MARIA ĐƯỢC VATICAN CẤP VÉ THÔNG HÀNH HỒN XÁC ĐƯỢC CHÍNH THỨC BAY LÊN TRỜI KHI NÀO?

 SAU 19 THẾ KỶ CHỜ ĐỢI, CUỐI CÙNG ĐỨC MẸ MARIA CŨNG ĐƯỢC VATICAN CẤP GIẤY THÔNG HÀNH ĐỂ BAY VỀ TRỜI VÀO NĂM 1950.

Ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Assumptio Beatae Mariae Virginis) vào 15/8 thực ra là một truyền thống phát triển dần dần, chứ không hề có trong Kinh Thánh. Nguồn gốc lịch sử có thể chia thành mấy giai đoạn:

 1. Không có trong Tân Ước

• Tân Ước không hề nhắc đến việc Maria được đưa hồn xác về trời.

• Các tác phẩm Kitô giáo thế kỷ 1–3 cũng không đề cập. Điều này cho thấy tín điều này không phải là niềm tin ban đầu của Kitô giáo.

 2. Xuất hiện từ các chuyện ngụy thư thế kỷ 4–5

• Khoảng thế kỷ 4–5, xuất hiện các bản “Transitus Mariae” (“Sự qua đời của Maria”) — sách ngụy thư kể rằng Maria qua đời (Dormition), rồi xác được Giêsu đem lên trời.

• Các văn bản này chịu ảnh hưởng thần thoại Đông phương và ý tưởng về “cái chết của các thánh” chứ chưa phải giáo lý chính thức.

 3. Đông phương định hình lễ Dormition (Đức mẹ an nghỉ)

• Ở Đế quốc Byzantine, vào thế kỷ 6 dưới thời hoàng đế Maurice (582–602), ngày 15/8 được ấn định là lễ Dormition của Maria.

• Ban đầu đây là lễ tưởng niệm cái chết của bà, chứ không nhấn mạnh “hồn xác về trời”.

 4. Tây phương chuyển thành “Assumption”

• Ở Tây Âu, từ thế kỷ 7–8, các tu sĩ và thần học gia Latinh chuyển ý Dormition thành Assumption — nhấn mạnh Maria không bị hư nát xác và được đưa cả hồn lẫn xác lên trời.

• Giáo hoàng Sergius I (687–701) đưa lễ này vào phụng vụ Rôma, nhưng vẫn chưa có tín điều chính thức.

 5. Công bố thành tín điều năm 1950

• Dù đã mừng lễ từ lâu, nhưng đến ngày 1/11/1950, giáo hoàng Piô XII mới chính thức tuyên bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời qua tông hiến Munificentissimus Deus.

• Đây là một trong hai tín điều Công giáo được công bố bằng quyền “vô ngộ” của Giáo hoàng trong thế kỷ 20 (tín điều kia là “Vô Nhiễm Nguyên Tội” năm 1854).

👉 Tín điều này được công bố sau Thế chiến II (1950), giữa lúc thế giới cần hy vọng. Nhiều học giả nhận định đây là một động thái chính trị–tôn giáo để củng cố uy tín Giáo hoàng, hơn là một “mạc khải thiêng liêng”.

St

Chienslambao.blogspot.com






BẰNG CHỨNG JESUS LÀ MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ CÓ THẬT QUÁ MƠ HỒ.

 Gởi các tín đồ Công giáo tôi không hề nói “Giêsu không tồn tại”. Theo đa số các nhà sử học, Giêsu có thể là một anh chàngDo thái có thật sống đâu đó khoảng 6-4TCN, bị xử tử dưới thời Pilate như bạn thừa nhận. Tôi hỏi: 

❓Nếu đến ngày tháng năm sinh, năm mất của Giêsu còn không ai biết chắc chắn, vậy bạn dựa vào bằng chứng nào để khẳng định “Giêsu là chúa”? 

❓Dựa vào bằng chứng nào bạn tin những câu chuyện “phép lạ” được viết rất lâu sau thời Giêsu sống, bởi các tác giả vô danh - được gán cho những cái tên Mark, Matthew, Luke, John, kể về Giêsu trong Tân ước là những sự thật lịch sử? - ví dụ như câu chuyện “thụ thai bởi phép chúa thánh thần”? Ai chứng kiến, ai kiểm chứng?🤭

St

Chienslambao.blogspot.com







Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

GIA TỘC TỔ TIÊN NGƯỜI ĐẠO CHÚA GỒM NHỮNG AI?

 Gia tộc nhà cháu cũng có khá nhiều scandal, những pha bẻ lái, quay xe khét lẹt chứ chẳng chơi. cơ mà còn dễ chịu hơn vụ này nhiều 🤣

Theo kinh thánh bên kitô giáo,  đây là sơ đồ phả hệ của gia đình con người đầu tiên trên Trái Đất, Adam and Eve, dựa trên chương 4 và 5 của sách " Sáng Thế Ký ". 🤣

Ủa... Vậy là họ cùng huyết thống mịa nó rồi ...tính từ trên xuống dưới thì họ toàn là người nhà, cận huyết, cùng anh em ruột thịt hết.

Từ ông, bà Hê -nốt, I-rat, Mê- Hu-gia-lê, mát- tu- sao,  và lê- méc đều là anh em con chú bác, họ vẫn lấy nhau làm vợ chồng 🤣

Theo như khoa học đã chứng minh, tổ tiên nhà cháu xuất hiện trước bọn này nhé, đừng đưa gia tộc nhà cháu vào đây cùng với họ, ngại chết được 🤣

St

Chienslambao.blogspot.com






KẺ THÙ CỦA ĐẠO THIÊN CHÚA LÀ AI?

 AI MỚI LÀ KẺ THÙ CỦA KITO GIÁO ? Dưới đây là 4 kiểu tín đồ mà chúng ta gặp rất nhiều trong cuộc sống thường nhật: 1. "Hệ điều hành cài...