Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

CHÚA CÒN NHỚ HAY CHÚA ĐÃ QUÊN?

 1. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn năng và yêu thương con cái Ngài như cha mẹ yêu con, tại sao Ngài lại để ngọn lửa thiêu sống ba mẹ con trong cơn đau đớn kinh hoàng thay vì chỉ cần một phép lạ nhỏ để dập tắt đám cháy hoặc mở lối thoát?

2. Khi người mẹ và hai đứa trẻ đang cầu nguyện mỗi tối, tại sao lời cầu xin bảo vệ của họ lại không được đáp lời, trong khi chính Kinh Thánh hứa rằng “hễ xin thì sẽ được”?

3. Thiên Chúa có biết trước vụ cháy này từ đời đời không? Nếu có, tại sao Ngài không ngăn chặn từ đầu, mà lại chọn để ba mạng người vô tội bị chết ngạt và bỏng trong tuyệt vọng?

4. Nếu đây là “ý định tốt lành” của Thiên Chúa (như nhiều tín hữu thường nói “mọi sự xảy ra đều có lý do”), thì lý do tốt lành gì đáng để một đứa trẻ 6 tuổi và một thiếu nữ 14 tuổi phải chết cháy thay vì sống tiếp?

5. Tại sao Thiên Chúa lại im lặng và không can thiệp, trong khi Ngài từng được mô tả là đã làm phép lạ xẻ biển, khiến tường thành sụp đổ, chữa lành người mù, thậm chí làm người chết sống lại?

6. Nếu cầu nguyện có sức mạnh thật sự, tại sao hàng triệu tín hữu Kitô giáo trên thế giới cầu nguyện mỗi ngày cho sự bảo vệ, nhưng vẫn có hàng ngàn trẻ em Kitô giáo chết trong hoả hoạn, động đất, tai nạn mỗi năm?

7. Người chồng/bố đi vắng và sống sót, liệu có phải Thiên Chúa đã “chọn” cứu riêng ông ấy và bỏ mặc vợ con, hay chỉ là ngẫu nhiên thuần tuý mà không có bàn tay thần thánh nào?

8. Nếu linh hồn ba mẹ con giờ đang “yên nghỉ trong Chúa” ở thiên đàng, vậy tại sao Thiên Chúa không để họ đến đó một cách nhẹ nhàng (bệnh tật, già cả) thay vì phải trải qua nỗi kinh hoàng bị lửa thiêu sống?

9. Kinh Thánh dạy rằng Thiên Chúa quan phòng từng sợi tóc trên đầu chúng ta, vậy sợi tóc nào trên đầu ba mẹ con khiến Ngài quyết định để họ chết trong đám cháy này?

10. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, tại sao tình yêu ấy lại cho phép (hoặc gián tiếp gây ra) cảnh một người mẹ bất lực nhìn con mình ngạt khói và cháy đen ngay trước mắt?

11. Hàng xóm và lính cứu hoả đã cố gắng hết sức nhưng thất bại, vậy Thiên Chúa, Đấng được cho là mạnh hơn mọi lực lượng con người, tại sao lại để con người phải bất lực trong khi Ngài hoàn toàn có thể cứu?

12. Liệu có phải niềm tin rằng “Chúa sẽ không để điều gì xảy ra nếu không có lý do” chỉ là cách tự an ủi tâm lý, chứ thực tế không có bất kỳ bằng chứng khách quan nào cho thấy sự can thiệp thần thánh trong những thảm kịch như thế này?

13. Nếu Thiên Chúa thực sự nghe lời cầu nguyện của người công chính, tại sao gia đình tín hữu này, những người sống đạo đức, hiền lành theo lời kể hàng xóm lại không được bảo vệ, trong khi rất nhiều kẻ ác vẫn sống thọ và bình an?

St

Chienslambao.blogspot.com







Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

ĐỜI NGƯỜI SỐNG ĐƯỢC BAO LÂU?


Trong một lần đi thuyết giảng, Đức Phật đã đến một nơi rất xa xôi. Trên đường đi, Ngài cùng với các môn đồ của mình đã được chứng kiến biết bao cảnh đời, người giàu có, kẻ nghèo có, người khỏe mạnh có, người đau yếu cũng có. Đó vốn là những thứ tất yếu tồn tại trên cõi đời, nhưng khi tận mắt chứng kiến, mới thật xót xa.

Đi bộ nhiều ngày khiến đôi chân của họ trở nên chai cứng, nhức mỏi, thậm chí là đau đớn. Họ quyết định nghỉ lại giữa đường. Khi ngồi dưới bóng của một cái cây lớn, Đức Phật bất ngờ hỏi một môn đồ ngồi gần nhất, là một Shramana (nhà sư, tu sĩ khổ hạnh) rằng, "Đời người dài bao lâu?".

Bất ngờ trước câu hỏi của Đức Phật, môn đồ này chẳng kịp suy nghĩ gì, đã trả lời rất nhanh như một phản xạ: "Thưa Đức Phật, đời người có lẽ dài được vài chục năm, nếu người nào sống thọ thì có lẽ được hơn như thế một chút".

 Đức Phật hỏi Đời người dài bao lâu, câu trả lời của 1 môn đồ khiến nhiều người giật mình - Ảnh 1.

Đức Phật hỏi các môn đồ, "Đời người dài bao lâu?", mỗi người lại đưa ra một đáp án khác nhau. (Ảnh minh họa)

Đức Phật nói, "Vậy là ngươi chưa hiểu gì rồi". Sau đó, Đức Phật lại hỏi một môn đồ khác, người này trả lời rằng, "Thưa Đức Phật, chẳng phải ai cũng có thể sống được tới vài chục năm. Có những người chỉ sống được vài năm mà thôi". Đức Phật vẫn nói, "Chưa đúng".

"Vậy vài tháng?"…

"Vài tuần?"…

"Vài ngày?"…

Đức Phật trả lời: "Các ngươi chưa hiểu gì về Phật pháp rồi". Cuối cùng, chỉ còn lại một môn đồ im lặng từ lúc đầu đến giờ. Đức Phật nhìn anh ta, rồi hỏi, "Còn ngươi, ngươi nghĩ đời người dài bao lâu?".

Người này nhìn Đức Phật, lễ phép nói: "Thưa Đức Phật, con nghĩ đời người chỉ dài bằng một hơi thở mà thôi".

Đức Phật gật gù: "Đúng vậy ông là người hiểu đạo, đời người chỉ tính bằng hơi thở".

Chienslambao.blogspot.com




CHỦ NGHĨA VÔ THẦN CÓ NHÂN VĂN ĐẠO ĐỨC KHÔNG?

 Chủ nghĩa vô thần không phải là một tôn giáo, mà là sự phủ nhận triệt để mọi hình thức tôn giáo có tổ chức và giáo điều. Nó không phải là một hệ thống tín ngưỡng hay tổ chức có quyền lực, nên không tồn tại “giáo lý vô thần” nào dạy dỗ về đạo đức hay phi đạo đức. Chủ nghĩa vô thần đơn giản chỉ là sự thiếu vắng niềm tin hoặc chủ động từ chối vào sự tồn tại của bất kỳ vị thần nào.

Khi con người buông bỏ niềm tin vào Thượng đế, họ cũng không còn chấp nhận các quy tắc đạo đức chỉ vì chúng được “mặc khải” từ kinh sách hay uy quyền tôn giáo. Thay vào đó, đạo đức ở người vô thần thuộc vào lý trí, kinh nghiệm nhân loại và sự đồng thuận xã hội.

Hãy suy ngẫm thực tế: dù các tôn giáo đều tuyên bố có một Thượng đế tối cao, nhưng mỗi tôn giáo lại mang đến những bộ quy tắc đạo đức khác biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau. Điều này không chỉ gây chia rẽ giữa các cộng đồng, mà còn tạo ra xung đột nội tâm sâu sắc trong chính mỗi cá nhân, khi họ phải chọn giữa lòng trung thành với đức tin và lương tri nhân bản.

Người vô thần chọn con đường đạo đức dựa trên cơ sở lý trí và bằng chứng: tuân thủ luật pháp của xã hội hiện đại, đồng thời ôm lấy các giá trị nhân văn phổ quát – tình yêu thương, lòng trắc ẩn, sự công bằng, trung thực và tôn trọng lẫn nhau. Họ không nói dối, không trộm cắp, không bạo lực, không phân biệt, kỳ thị giới tính không phải vì sợ bị thần thánh phạt, mà vì nhận thức rõ rằng những hành vi ấy gây tổn thương thực sự cho người khác và làm suy yếu chính nền tảng của xã hội mà họ đang sống. Một người vô thần sẽ không chấp nhận sự bất bình đẳng giới tính được biện minh bằng tôn giáo, chẳng hạn như chế độ đa thê một chiều, vì nó rõ ràng vi phạm nguyên tắc bình đẳng và nhân phẩm.

Điều quan trọng hơn: chính vì không tin có một đấng tối cao sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi qua nghi lễ hay sám hối, người vô thần mang trong mình ý thức trách nhiệm tuyệt đối với hành động của mình. Họ hiểu rằng hậu quả của cái ác là thực tại, không phải nằm ở đời sau, mà ngay trong cuộc đời này, trong lương tâm, trong mối quan hệ và trong xã hội. Ngược lại, niềm tin vào sự tha thứ vô điều kiện từ Thượng đế lại tạo ra kẽ hở tâm lý, khiến con người dễ dàng biện minh cho hành vi sai trái, với hy vọng “sẽ được rửa sạch” qua nghi thức.

Tôn giáo, dù mang lại ý nghĩa, mối quan hệ cộng đồng, sự an ủi cho nhiều người, nhưng lại có khả năng đáng sợ: làm mờ lý trí của cả những trí thức xuất sắc, và biến những con người lương thiện thành hung bạo khi họ nhân danh Thượng đế để kỳ thị, căm ghét hay thậm chí tàn sát những ai tin khác. Lịch sử nhân loại đầy những bi kịch như vậy từ chiến tranh tôn giáo đến bạo lực cực đoan ngày nay.

Chủ nghĩa vô thần, ở bản chất tốt đẹp nhất, là lời kêu gọi sống bằng lý trí và bằng chứng. Nó khuyến khích chúng ta không tin bất cứ điều gì chỉ vì truyền thống, uy quyền hay số đông, mà phải tự mình quan sát, phân tích và kiểm chứng. Triết lý này được thể hiện sâu sắc qua lời dạy nổi tiếng của ông Phật:

“Đừng tin điều gì chỉ vì nghe nói. Đừng tin chỉ vì nhiều người nói. Đừng tin chỉ vì nhìn thấy trong kinh sách. Đừng tin chỉ vì thầy dạy hay người lớn tuổi bảo. Đừng tin chỉ vì truyền thống lâu đời. Nhưng sau khi tự mình quan sát, phân tích, thấy điều đó hợp lý, mang lại lợi ích và hạnh phúc cho bản thân lẫn mọi người, thì hãy chấp nhận và sống theo.”

Đáng tiếc, chính triết lý lý trí ấy đã bị biến dạng khi ông Phật bị phong thần thánh và Phật giáo trở thành tôn giáo với nghi lễ phức tạp, đôi khi xa rời tinh thần ban đầu.

Nhưng lịch sử đang chuyển động. Nhân loại ngày càng tiến bộ nhờ khoa học, giáo dục và tư duy phê phán. Các quốc gia có tỷ lệ người vô thần, bất khả tri hoặc không theo tôn giáo cao nhất thường nằm trong nhóm phát triển nhất, bình đẳng nhất và hạnh phúc nhất thế giới. Theo các khảo sát gần đây (2023–2025), Trung Quốc dẫn đầu với khoảng 90–91% dân số không theo tôn giáo hoặc vô thần; Nhật Bản khoảng 86%; Thụy Điển khoảng 78%; Czech Republic khoảng 75%; cùng với Đan Mạch, Na Uy, Việt Nam và nhiều nước Bắc Âu khác có tỷ lệ không tôn giáo rất cao (thường trên 50–70%).

Những quốc gia này, đặc biệt các nước Bắc Âu như Phần Lan (liên tục đứng đầu), Đan Mạch, Thụy Điển, Iceland, Na Uy thống trị bảng xếp hạng hạnh phúc thế giới (World Happiness Report 2025), với chỉ số cao về lòng tin xã hội, bình đẳng giới, phúc lợi, tự do cá nhân và chất lượng cuộc sống. Họ chứng minh rằng một xã hội có thể đạo đức, nhân văn và thịnh vượng mà không cần dựa vào niềm tin siêu nhiên.

Xu hướng toàn cầu rõ ràng: khi tôn giáo suy giảm và lý trí, khoa học lên ngôi, con người không trở nên vô đạo đức ngược lại, xã hội thường trở nên công bằng, an toàn và nhân ái hơn. Tương lai có lẽ sẽ chứng kiến chủ nghĩa vô thần không còn là thiểu số, mà trở thành nền tảng phổ biến của nhân loại tiến bộ, nơi đạo đức xuất phát từ sự thấu hiểu và đồng cảm thực sự, chứ không từ nỗi sợ hãi hay hy vọng phần thưởng thiêng liêng.

# Clip đoàn 19 nhà sư mang theo thông điệp hòa bình đã đến Richmond vào thứ Hai, ngày thứ 100 trong cuộc hành trình đi bộ từ Texas đến Washington D.C. Văn phòng thị trưởng ước tính có khoảng 10.000 người đứng dọc tuyến đường đi qua thành phố.

https://www.facebook.com/share/p/1AHtQsVvJ7/

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

ĐAU KHỔ LÀ MỘT MÓN QUÀ CỦA CHÚA BAN TẶNG CHO TÍN ĐỒ.

 Bà "Mother" Teresa nói rằng :  “Đau khổ là một món quà từ Chúa. Nó đưa chúng ta đến gần Chúa Jesus trên thập tự giá hơn. Chấp nhận số phận của bạn với niềm vui.”

Nếu đau khổ thực sự là “món quà đẹp đẽ” từ Chúa, thì logic rất đơn giản: càng đau khổ nhiều càng tốt, vì càng gần Chúa hơn. Vậy tại sao phải cố gắng giảm đau? Tại sao phải đầu tư vào thuốc giảm đau, chăm sóc y tế hiện đại? Quan điểm này dễ dẫn đến việc không chữa trị triệt để, thậm chí coi việc giảm đau là chống lại ý Chúa. Nó không còn là chấp nhận thập giá theo ý niệm Kitô giáo truyền thống, mà trở thành tôn thờ đau khổ có hệ thống.

Thế nhưng chính Teresa lại không sống theo lời mình nói. Khi bà bị bệnh tim, bà đến bệnh viện hiện đại ở Mỹ và châu Âu, nhận morphine, phẫu thuật, chăm sóc tốt nhất. Còn ở Nhà Thương của bà tại Calcutta, bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối thường chỉ được cho aspirin (nếu có), kim tiêm tái sử dụng, điều kiện vệ sinh kém, đau đớn kéo dài không được giảm nhẹ đúng mức. Nếu đau khổ là “món quà”, sao bà lại từ chối món quà đó cho chính mình? Đây là sự đạo đức giả rõ ràng: món quà thiêng liêng đáng khinh đó chỉ dành cho người nghèo, người yếu thế; còn người có quyền lực thì được miễn trừ.

Hậu quả thực tế thì đau lòng. Nhiều nhân chứng,bác sĩ, tình nguyện viên, nhà báo như Aroup Chatterjee mô tả các Nhà Thương của Missionaries of Charity giống nơi tôn vinh đau khổ hơn là chữa trị: bệnh nhân quằn quại, thiếu morphine dù tiền quyên góp khổng lồ, điều kiện kém đến mức dễ lây nhiễm thêm bệnh. Chatterjee gọi đó là “cult of suffering” – một giáo phái tôn thờ đau khổ. Mục tiêu dường như không phải cứu mạng sống hay giảm đau, mà là để họ chịu đau như Jesus, nhằm “cứu linh hồn”. Kết quả: hàng ngàn người chết trong đau đớn không cần thiết.

Hơn nữa, khi bà nói “có điều gì đó rất đẹp khi thấy người nghèo chấp nhận số phận, chịu đựng như cuộc khổ nạn của Chúa”, bà đã làm đẹp hóa nghèo đói và bất công. Giới giàu có, chính trị gia, doanh nhân cảm thấy an ủi lương tâm khi quyên góp, mà không cần đặt câu hỏi tại sao hệ thống xã hội vẫn đẩy người ta vào nghèo khổ. Christopher Hitchens từng gọi đây là cách giúp người giàu cảm thấy “được cứu rỗi” mà không phải thay đổi gì cả, nó giữ người nghèo ở vị trí nạn nhân thiêng liêng, thay vì trao quyền để họ thoát nghèo.

Không ai, được phép áp đặt diễn giải thần học lên nỗi đau của người khác, rồi dùng nó để biện minh cho việc không làm hết sức để giảm đau khổ. Đau khổ phần lớn đến từ bệnh tật, nghèo đói, bất công ...những thứ con người có khả năng giảm bớt đáng kể nhờ y học, tiến bộ và công bằng xã hội. Gọi chúng là “món quà” chẳng khác gì bảo: “Đừng chữa ung thư, cứ để họ chịu đau, Chúa đang hôn họ đấy”.


Một xã hội văn minh không tôn vinh đau khổ mà phải dốc hết sức giảm thiểu nó, bằng khoa học, y tế và lòng trắc ẩn thực sự. Nỗi đau của con người không phải món quà, nó là điều cần được chữa lành, xoa dịu, và xóa bỏ khi có thể.

St

Chienslambao.blogspot.com




CON CHIÊN ĐẠO THIÊN CHÚA MÊ TÍN THỨ HAI THÌ KHÔNG CÓ AI CHỦ NHẬT

 Công giáo La Mã rao giảng khinh thường của cải, ca ngợi người nghèo là “phúc lành”, kêu gọi “đừng lo cho ngày mai”. Nhưng thực tế phũ phàng: Giáo hội này vận hành như một cỗ máy tài chính khổng lồ, sống nhờ và sống bằng dòng tiền chảy từ túi những người nghèo nhất.

Nhà thờ đồ sộ, Vatican lộng lẫy, bộ máy giáo sĩ được trả lương, tất cả đều được xây dựng trên những đồng tiền ít ỏi của tín hữu. Một vị Thiên Chúa toàn năng cần gì đến ngân sách hàng tỷ đô, cần gì đến phong bì dâng cúng để tồn tại? Câu trả lời rõ như ban ngày: vì không có tiền, Giáo hội sẽ sụp đổ. Đó không phải là Giáo hội của Chúa, mà là đế chế của con người - tham lam, quyền lực, và rất trần tục.

Việc dâng hiến dù gọi là “tự nguyện” lại là sợi dây vô hình trói chặt tín đồ. Đổ tiền vào “kho của Chúa” bao năm từ dâng lễ, xin lễ, đóng góp xây dựng, đến các khoản “cảm tạ”... Việc rời bỏ trở thành một tổn thất tâm lý khổng lồ, tương tự hiệu ứng sunk cost (chi phí chìm). Họ không chỉ mất tiền, mà còn mất đi ý nghĩa đã đầu tư vào niềm tin, vào cộng đồng giáo xứ, ai dám bỏ đi? 

Tàn nhẫn nhất là việc khai thác nỗi đau: một người mẹ, một người cha hay một người tuyệt vọng, bỏ một ít tiền vào phong bì, viết nguệch ngoạc cầu xin cho người thân hoặc chính bản thân mình: “xin Chúa chữa lành bệnh cho con”. Họ được dạy rằng: dâng nhiều = tin nhiều = được chữa lành. Kết quả? Bệnh vẫn còn, tiền mất, hy vọng tan vỡ, và họ tiếp tục quay lại vì “có lẽ chưa dâng đủ”. Đây không phải mục vụ, đây là bóc lột tinh thần trá hình dưới lớp áo từ bi.

Khi một Giáo hội tự xưng là đại diện Thiên Chúa lại phải dựa vào phong bì của người nghèo để “chữa bệnh”, thì nó đã tự phán xét chính mình: không phải Thiên Chúa đang điều hành, mà là những bàn tay con người đang thao túng nỗi sợ và niềm tin để duy trì quyền lực.

Công giáo La mã không phải là con đường dẫn đến Thiên đàng. Nó là một hệ thống tinh vi biến đức tin thành hàng hóa, biến sự tuyệt vọng thành nguồn thu nhập ổn định.

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

TỔ PHỤ APRAHAM CÓ THẬT KHÔNG?

 CÓ LẼ BẠN CHƯA BIẾT APRAHAM ÔNG TỔ CỦA BA TÔN GIÁO LỚN ĐẠO THỜ THIÊN C HÚA Ở TRUNG ĐÔNG (HỒI, DO THÁI VÀ CÔNG GIÁO) LÀ MỘT NHÂN VẬT HƯ CẤU KHÔNG HỀ CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ.🤭

Apraham tổ phụ của ba tôn giáo thờ độc thần xuất phát từ Trung đông, là một nhân vật hư cấu trong truyện thần thoại của người Do Thái, hoàn toàn khác so với đức Phật là nhân vật lịch sử có thật.

Chienslambao.blogspot.com



Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

HÀ BÁ LẤY VỢ

 Cách người xưa trị mê tín

Nhiều năm trước, trong một chuyến điền dã dọc sông Hóa (khu Thái Thụy - Thái Bình), tôi tìm hiểu về một ngôi đền thờ Tây Thi - tứ đại mỹ nhân Trung Hoa, mà dân địa phương tin là quê gốc của nàng.

Chưa kịp ngạc nhiên vì câu chuyện ấy, tôi lại gặp một ngôi đền khác: đền thờ một đào hát. Và câu chuyện phía sau khiến người nghe vừa rợn, vừa tò mò, lại vừa khó tin.

Thời Lê, đê sông Hóa liên tục vỡ. Nước lũ triền miên, dân đói khổ. Bà đồng được mời đến “thỉnh” Hà Bá. Kết quả: Hà Bá đòi hiến tế.

Một sân khấu được dựng ngay bên sông. Dân làng thuê đào hát về diễn. Khi đào đang múa hát trên sàn, người ta bí mật chặt cột, để cả sân khấu trôi tuột xuống dòng nước. Đào hát bị hiến cho Hà Bá.

Thương xót, dân lập đền thờ nàng. Đến nay vẫn hương khói.

Đồng cốt, mê tín ở Việt Nam, xét kỹ, phần lớn đều chịu ảnh hưởng từ phương Bắc. Hà Bá cũng là một “thần” như thế. Người đi sông nước xưa nay đều sợ cái tên này.

Lật lại sử sách thời Chiến Quốc mới thấy: mê tín không phải không thể diệt. Người xưa đã làm rồi.

Tư Mã Thiên từng chép một câu chuyện rất nổi tiếng về Tây Môn Báo, người nước Ngụy, sống khoảng thế kỷ V trước Công nguyên - một ví dụ điển hình cho cách trị mê tín bằng lý trí và quyền lực.

Thời Ngụy Văn Hầu, Tây Môn Báo được cử làm huyện lệnh ở ấp Nghiệp. Vừa nhậm chức, ông hỏi các bô lão:

- Dân ở đây khổ vì điều gì nhất?

Họ đáp:

- Khổ vì Hà Bá lấy vợ.

Hỏi ra mới biết: mỗi năm quan tam lão và thuộc hạ thu thuế của dân, trích vài chục vạn để “cưới vợ cho Hà Bá”, phần còn lại chia nhau với đám đồng cốt. Bọn này thấy nhà nào có con gái đẹp thì phán “được chọn”, mang sính lễ tới. Cô gái bị nhốt riêng, ăn chay, mặc lụa, ở trong “nhà trai” bên sông hơn mười ngày. Sau đó được trang điểm như tân nương, đặt lên giường thả trôi xuống sông Hoàng Hà cho đến khi chìm hẳn.

Nhà nào cũng sợ. Nhiều người phải đưa con gái trốn đi nơi khác. Thành quách tiêu điều, ruộng đất bỏ hoang, đói kém càng thêm đói kém. Dân gian truyền miệng: “Không lấy vợ cho Hà Bá thì nước sẽ dâng gi.ết sạch.”

Nghe xong, Tây Môn Báo chỉ nói:

- Lần tới Hà Bá cưới vợ, nhớ báo ta đến tiễn.

Ngày ấy, toàn bộ tam lão, đồng cốt, bô lão và dân chúng tập trung bên sông. Người con gái được đưa ra. Tây Môn Báo nhìn một lát rồi nói:

- Cô này chưa xứng. Phiền bà cốt xuống báo Hà Bá, chờ người khác.

Ông lập tức ra lệnh ném bà cốt xuống sông.

Một lúc sau, ông lại nói:

-Sao bà cốt đi lâu thế? Đệ tử xuống giục đi.

Lại một người bị ném xuống.

Rồi thêm người nữa.

Sau cùng, Tây Môn Báo nói:

- Đàn bà con gái khó trình bày rõ. Phiền tam lão xuống nói cho cặn kẽ.

Tam lão cũng bị quẳng xuống sông.

Lúc này, đám quan lại và bô lão còn lại hoảng loạn, quỳ rạp xin tha, đầu đập xuống đất, máu chảy đầm đìa. Tây Môn Báo thản nhiên:

- Được, ta đợi thêm chút nữa.

Chờ một lúc, ông nói:

- Hà Bá giữ khách lâu quá. Thôi, giải tán.

Từ đó, không còn ai dám nhắc đến chuyện Hà Bá lấy vợ.

Tây Môn Báo cho đào mười hai con ngòi, dẫn nước sông vào ruộng. Ban đầu dân kêu khổ, ông chỉ nói:

- Lúc làm thì mệt, nhưng trăm năm sau con cháu các ông sẽ nhớ hôm nay.

Quả nhiên, đất Nghiệp nhờ thủy lợi mà no đủ, giàu có. Tây Môn Báo trở thành vị quan nổi tiếng, ân đức lưu truyền hậu thế.

Một câu chuyện cũ, nhưng đọc lại vẫn thấy rợn người.

Mê tín không biến mất vì cầu khấn-mà biến mất khi có người dám cắt đứt lợi ích của kẻ nuôi mê tín.

(ảnh mạng- minh họa )

St

Chienslambao.blogspot.com






CHÚA CÒN NHỚ HAY CHÚA ĐÃ QUÊN?

 1. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn năng và yêu thương con cái Ngài như cha mẹ yêu con, tại sao Ngài lại để ngọn lửa thiêu sống ba mẹ con trong ...