Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

KHI CHƯA CÓ MẶT TRỜI MẶT TRĂNG VÀ CÁC VÌ SAO, NHƯNG THIÊN CHÚA VẪN TẠO RA ĐƯỢC NGÀY VÀ ĐÊM MỚI TẾU CHỚ.🤭

 Chứng minh thiên chúa có thật


Người thắc mắc: Thiên chúa có toàn năng không vậy, thưa cha?

Cha xứ: Có chứ con. Không có gì mà thiên chúa không làm được. Mà cái gì ngài đã làm đều là chân chân thiện mỹ.

Người thắc mắc: Thiên chúa tạo dựng vũ trụ trong 6 ngày. Ngày đầu tiên ngài tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Rồi mãi tận ngày thứ … tư ngài mới tạo ra mặt trời cùng trăng sao! Bẩm cha, ánh sáng và bóng tối trong ngày thứ nhất thiên chúa lấy ở đâu ra ạ?

Cha xứ: Ánh sáng và bóng tối của ngày thứ nhất … khác với ánh sáng và bóng tối của ngày thứ tư nha, con yêu! Trong kinh thánh ghi rõ là "ngày " thứ nhất. Mà đã là ngày thì phải có đêm. Tuy rằng trong ngày thứ nhất thiên chúa chưa tạo ra mặt trời cùng trăng sao, nhưng cái thuật ngữ "ngày" tự nó đã ám chỉ ánh sáng và bóng tối rồi, con nhé. Đấy. Con thấy không? Thiên chúa là đấng toàn năng mà. Ngài thậm chí có khả năng tách ánh sáng ra khỏi bóng tối ngay cả khi chưa có … mặt trời cùng trăng sao! Con thấy không? Thiên chúa là đấng toàn năng mà.

Người thắc mắc: Sao bạn con nói, sở dĩ con tin thiên chúa là đấng toàn năng là tại vì đầu óc con toàn cám sú vậy, cha?

Cha xứ: Bạn con nói có lý đó. Nếu con không ăn cám sú thì làm sao con có thể tin vào những điều vĩ đại như cha con ta thảo luận từ nãy tời giờ được?

Ngưới thắc mắc: Rốt cuộc, thiên chúa có thật không vậy, cha?

Cha xứ: Thiên chúa không những có thật mà ngài còn là đấng toàn năng nữa.

Ngưới thắc mắc: Chắc từ mai con chuyển qua ăn cam lon quá, thưa cha!🤣🤣🤣

St

Chienslambao.blogspot.com










Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

JESUS CÓ CHA RUỘT LÀ PHÀM NHÂN BỊ NHIỄM TỘI NGUYÊN TỔ.


Nếu Jesus nhiễm tội tổ tông thì chứng tỏ Jesus là con trai của một phàm nhân bình thường, không phải là con do chúa thánh linh và maria giao phối sinh ra. Vì chúa thánh linh không mang xác phàm, nên không hề bị nhiễm tội tổ tông, theo tín điều công giáo giải thích thì Maria đã vô nhiễm nguyên tội kể từ khi quan hệ tình ái với chú a thánh linh. Khi cả hai đối tượng cha và mẹ đều đã "tinh sạch" tội nguyên tổ quan hệ tình ái với nhau, khi thụ t hai sinh con ra bị nhiễm tội nguyên tổ thì là một điều hết sức vô lý. Có khả năng trước đó Maria đã ăn nằm với đàn ông phàm tục có tha,i trước khi quan hệ với chúa thánh linh, nên sinh ra Jesus vẫn bị nhiễm tội tổ tông một cách bình thường, khi lớn lên Jesus hiểu rõ nguồn cội, nên hắn phải nhờ Gioan Báptit rửa tội tổ tông cho mình dưới dòng sông Giodan.😁

Chienslambao.blogspot.com








Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

TRUYỀN THUYẾT VALENTINE

 Truyền thuyết phổ biến của Kitô giáo về lễ Valentine kể về một linh mục ở Rome thế kỷ 3 rằng hoàng đế Claudius II cấm kết hôn thanh niên vì cho rằng người độc thân sẽ là binh lính tốt hơn và Valentine bí mật cử hành hôn nhân cho các cặp đôi, bị phát hiện và tử đạo vào ngày 14/2 khoảng năm 269–270.

Câu truyện này xuất hiện rất muộn khoảng thế kỷ 13–14 và không có bằng chứng lịch sử từ thế kỷ 3. Nhiều sử gia (như trong Britannica, History.com, và các nghiên cứu của Jack B. Oruch) xác nhận không có tài liệu cổ nào ghi nhận bất kì lệnh cấm hôn nhân của vua Claudius II, và câu chuyện này chỉ là truyền thuyết được thêu dệt sau này. 

Giáo hoàng Pope Gelasius I năm 496 đã đặt ngày 14/2 làm lễ kính Thánh Valentine, nhưng chỉ để kỷ niệm tử đạo và thay thế các lễ hội ngoại giáo còn sót lại (như Lupercalia). Lễ này không liên quan gì đến tình yêu đôi lứa, nó là ngày tôn vinh sự hy sinh đức tin, không phải ngày "tình nhân". 

Có ít nhất 2 người tên Valentine (hoặc Valentinus) được ghi nhận tử đạo vào ngày 14/2 . Một là linh mục Valentine ở Rome và người kia là giám mục Valentine ở Terni, Ý. Hai người đều bị cho là tử đạo dưới thời Hoàng đế Claudius II Gothicus (Claudius the Goth, trị vì 268–270).

Các tài liệu sớm nhất (như Martyrologies từ thế kỷ 5–8, và các Acta Sanctorum của Bollandists) chỉ ghi ngắn gọn:

Valentine là một linh mục hoặc giám mục phục vụ các Kitô hữu bị bách hại ở Roma hoặc vùng lân cận. Ông bị bắt, bị tra tấn. Ông bị đánh đập bằng gậy rồi chặt đầu ngoài Cổng Flaminian (nay là Piazza del Popolo) ở Roma vào ngày 14/2 khoảng năm 269. Thi hài ông được chôn trên Via Flaminia (con đường lớn dẫn ra phía bắc Roma), và sau này có nhà thờ/basilica được xây trên mộ (dưới thời Giáo hoàng Julius I). Lý do tử đạo cốt lõi: Bách hại Kitô giáo dưới thời Claudius II, một hoàng đế nổi tiếng với các chiến dịch quân sự, và thời kỳ này Kitô hữu thường bị bắt vì không thờ cúng thần ngoại giáo hoặc không tôn thờ hoàng đế.

Những câu chuyện lãng mạn mà chúng ta hay nghe ngày nay xuất hiện rất muộn (từ thế kỷ 13–14 trở đi, đặc biệt trong "Golden Legend" của Jacobus de Voragine năm 1260).

St

Chienslambao.blogspot.com





ĐẤT SÉT TRUNG ĐÔNG LÀM NÊN SỰ THÀNH CÔNG CỦA THIÊN CHÚA.

 Tổ tiên của tộc chiên khởi thủy là từ cục đất  sét trung đông, biến hoá thành động vật hoang dã trầntruồng không biết xấu hổ, rồi tiến hoá dần lên biết mặc đồ đẹp đi chơi tết như ngày nay mà nhể?🤭 

Chienslambao.blogspot.com





SỰ THẬT VỀ NGUỒN GỐC NGÀY LỄ TÌNH YÊU. 14/02

 NGÀY LỄ TÌNH NHÂN – TỪ NGUỒN GỐC NGOẠI GIÁO LA MÃ ĐẾN SỰ CHIẾM DỤNG CỦA KITÔ GIÁO

Ngày Valentine thường được nhiều người coi là một ngày lễ Kitô giáo, bởi nó mang tên của một vị thánh tử đạo. Tuy nhiên, khi khảo sát kỹ hơn, có thể thấy mối liên hệ giữa ngày lễ này với các nghi lễ ngoại giáo La Mã lại sâu đậm hơn nhiều so với mối liên hệ với Kitô giáo.

1. Juno Fructifier / Juno Februata

Vào ngày 14/2, người La Mã tổ chức lễ hội tôn vinh nữ thần Juno Fructifier (hay Juno Februata), Nữ hoàng của các thần linh. Trong nghi lễ, phụ nữ viết tên mình vào một chiếc hộp, và đàn ông rút thăm để ghép cặp. Hai người này sẽ sống như một đôi trong suốt thời gian lễ hội, thậm chí có khi cả năm. Nghi thức này nhằm thúc đẩy tình yêu và khả năng sinh sản.

2. Lễ hội Lupercalia

Ngày 15/2, người La Mã tổ chức lễ Lupercalia để tôn kính thần Faunus – vị thần sinh sản, và thần sói Lupercus. Họ tin rằng chính tại hang Lupercal, cặp song sinh Romulus và Remus – những người sáng lập thành Rome – đã được sói cái nuôi dưỡng. Trong nghi lễ, một con dê bị hiến tế, da của nó được xẻ ra để làm roi. Những người đàn ông cầm roi chạy khắp nơi quất nhẹ vào phụ nữ, với niềm tin rằng điều đó giúp gia tăng khả năng sinh sản.

3. Thánh Valentine – truyền thuyết Kitô giáo

 • Valentinus thứ nhất: Một linh mục Kitô giáo bị xử tử vào ngày 14/2/269 vì tổ chức hôn nhân bí mật trái lệnh hoàng đế Claudius II. Người ta kể rằng trước khi chết, ông nhận được những tờ ghi chú từ các đôi tình nhân ca ngợi tình yêu.

 • Valentinus thứ hai: Một linh mục khác bị bỏ tù vì giúp đỡ Kitô hữu. Ông yêu con gái cai ngục và gửi cho cô những lá thư ký tên “từ Valentine của em”, rồi bị chém đầu.

4. Kitô giáo chiếm đoạt ngày lễ

Năm 496, Giáo hoàng Gelasius I chính thức tuyên bố ngày 14/2 là ngày lễ kính Thánh Valentine, thay thế cho các nghi thức ngoại giáo như Lupercalia. Một số yếu tố của lễ Juno Februata được biến đổi: thay vì rút tên các cô gái, người ta rút tên các vị thánh tử đạo. Đây là một trong nhiều trường hợp Kitô giáo đồng hóa và “thánh hóa” các tập tục ngoại giáo để củng cố ảnh hưởng.

5. Từ lễ tử đạo sang lễ tình yêu

Phải đến thế kỷ 14, trong bối cảnh Phục hưng, ngày Valentine mới gắn với tình yêu lãng mạn. Nhiều nhà thơ và tác giả châu Âu bắt đầu kết nối mùa xuân, tình yêu và sinh sản với ngày 14/2, đưa nó trở thành dịp ca ngợi tình yêu đôi lứa thay vì tưởng nhớ một thánh tử đạo.

6. Thời hiện đại – ngày lễ thương mại

Ngày lễ tình nhân đã bị loại khỏi lịch phụng vụ Công giáo vào năm 1969, không còn là một ngày lễ chính thức trong bất kỳ hệ phái Kitô giáo nào. Ngày nay, Valentine chủ yếu gắn liền với quà tặng, thiệp, hoa hồng và chocolate – trở thành một phần của ngành công nghiệp hàng tỷ đô la.

❤️ Như vậy, Valentine không thực sự bắt nguồn từ Kitô giáo, mà là sự pha trộn, chiếm đoạt và tái định nghĩa các lễ hội ngoại giáo La Mã. Việc nó tồn tại và phát triển cho đến nay phản ánh nhiều hơn về sự biến đổi văn hóa và thương mại, hơn là về niềm tin tôn giáo.

Chienslambao.blogspot.com

Nguồn tham khảo:

https://www.learnreligions.com/christian-holiday-pagan-origins-of-valentines-day-250892?fbclid=IwVERDUAP863dleHRuA2FlbQIxMABzcnRjBmFwcF9pZAwzNTA2ODU1MzE3MjgAAR4Wnllb8vHcfV-HBnvalD7KEH2P1n6eWue1CM0Q0wZrpKmBN8hTkdu5tv-6eA_aem_bHUDx_NLFFSapgiCsTXbXg











TRUYỆN CỔ TÍCH TRUNG ĐÔNG ĐƯỢC NÂNG CẤP LÊN THÀNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO.

 Tin mấy cái chuyện cổ tích do thái, con rắn biết nói chuyện dụ gạt con chiên ăn trái táo, sau đó loài rắn bị ông thần thiên chú,a phạt cạp đất mà ăn và bò bằng bụng mãi mãi, đất sét biến hoá thành con chiên sống hoang dã trầntruồng trong rừng rú, kiếm ăn bằng nghề săn bắt hái lượm, loạnluân với nhau để tăng đàn như loài súcvật, thì có gì hay ho đâu con mấy con.🤭

Trúa của con chiens làm được gì ngoài việc giải quyết rắm theo linh mục Ngô Phúc Hậu: 

PHẢI CÁM ƠN CHÚA MỖI KHI TA ĐÁNH RẮM 🤣🤣🤣

https://www.youtube.com/watch?v=FZem3sby_MM&t=134s

Thank you!

Chienslambao.blogspot.com






Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

RAO GIẢNG TIN MỪNG HAY RAO GIẢNG TIN XÀM?

 Nhìn thẳng vào thực tế: con người sinh ra, sống rồi chết, chấm dứt hoàn toàn. Không đau đớn, không ý thức, chỉ là hết tồn tại. Đó là tin trung lập, không tốt cũng chẳng xấu.

Rồi Kitô giáo đến và tuyên bố: “Tin mừng nhé! Chúa Jesus đã chết và sống lại, nên nếu tin Ngài, bạn sẽ không bị tra tấn bằng lửa địa ngục mãi mãi (mặc định mọi người khác phải chịu!)

Nói trắng ra: tin “mừng” chỉ là một số ít người thoát khỏi cực hình vô tận do chính Đức Chúa Trời (đấng toàn năng, toàn thiện) áp đặt. Còn lại hàng tỷ người bao gồm cả trẻ em, người tốt, người chưa từng nghe về Chúa sẽ bị hành hạ có ý thức, không ngừng nghỉ, vĩnh viễn.

Hãy so sánh logic đơn giản:

- Một vụ máy bay chở 200 người rơi, có 10 người sống, bạn gọi đó là “tin mừng” vì có người thoát chết? Hay vẫn là thảm kịch kinh hoàng?

- Đại dịch quét sạch 90% dân số, 10% sống sót đó là “tin tốt” à? Hay vẫn là thảm họa diệt vong?

Vậy tại sao việc hầu hết loài người bị ném vào hồ lửa vĩnh cửu lại được gọi là “tin mừng” chỉ vì một nhóm nhỏ được cứu?

Kitô giáo không chỉ đưa lời hứa cứu rỗi. Nó đồng thời tiết lộ một thực tại kinh hoàng hơn bất kỳ điều gì tự nhiên: Đấng Tạo Hóa đã thiết kế (hoặc cho phép) một hệ thống mà mặc định, đại đa số, phần lớn nhân loại sẽ chịu khổ đau vô hạn chỉ vì không tin đúng cách, hoặc sinh nhầm chỗ, hoặc đơn giản không được “chọn”.

So với vô thần thì sao?

- Vô thần: chết là hết. Buồn, nhưng công bằng, không ai bị tra tấn bởi một đấng toàn năng. Không bất công vô hạn.

- Kitô giáo (với địa ngục vĩnh cửu): một Đấng Toàn Thiện lại dung túng (hoặc tạo ra) cực hình vô tận cho hầu hết sinh linh Ngài dựng nên.

Cái nào tệ hơn? Rõ ràng cái thứ hai tệ hại hơn vô hạn lần.

Vì thế, nếu Kitô giáo không đúng, đó sẽ là một trong những tin tuyệt vời nhất cho nhân loại: không còn mối đe dọa tra tấn vĩnh viễn nào nữa. Chỉ quay về thực tế đơn giản: sống, chết, hết. Không thiên đàng, nhưng cũng không địa ngục.

St

https://www.facebook.com/share/v/1H2axv4gQv/

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

SỰ DỐI TRÁ ĐƯỢC CHE ĐẬY PHÍA SAU LỚP VỎ BỌC "ĐỨC TIN"

 "Tôi không hề quay lưng lại với chúa, Giê-su hay kinh thánh. Tôi chỉ nhận ra rằng tất cả đều là những lời dối trá. Mọi chuyện đơn giản là thế.

Tôi lớn lên trong sự dạy dỗ, uốn nắn và bị nhồi nhét tư tưởng Kitô giáo từ mẹ mình. Bà cũng chẳng biết gì hơn; bà chỉ làm với tôi và anh chị em tôi những gì người ta đã từng làm với bà.

Phải cho đến khi trưởng thành, tôi mới thực sự đọc cuốn sách đó từ đầu đến cuối. Chính lúc đó, tôi nhận ra mình đã bị lừa dối.

Là một người từng được nuôi dưỡng để tin tưởng và bảo vệ những thứ nhảm nhí này, việc tháo gỡ và từ bỏ chúng quả thực rất khó khăn.

Nhưng tôi đã làm được.

Và thực lòng mà nói, việc bảo tôi xem xét Kitô giáo — hay bất kỳ tôn giáo nào khác — có chút sự thật nào hay không, chẳng khác gì một sự xúc phạm đối với trí tuệ của tôi."

Andre Smith

St

Chienslambao.blogspot.com

https://www.facebook.com/share/p/1DnnehLPqP/





THẦN THOẠI JESUS VÀ CÁI MU TRINH TIẾT.

 Dù cả hai câu chuyện về sự ra đời của Jesus trong sách Mátthêu và Luca đã mâu thuẫn nhau đến mức chí mạng, ít nhất một trong hai (hoặc cả hai) rõ ràng là sản phẩm của trí tưởng tượng. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ với các nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo La Mã. Họ tiếp tục nâng cấp câu chuyện bằng cách thêm vào hàng loạt chi tiết hư cấu, lan rộng như một căn bệnh ung thư không thể kiểm soát.

Đầu tiên, họ biến Maria thành "Đức Trinh Nữ vĩnh cửu" vì ý tưởng rằng bà quan hệ tình dục bị coi là quá ô uế, không xứng với vai trò "Mẹ Thiên Chúa".  

Tiếp theo, để đảm bảo Jesus không bị vấy bẩn tội nguyên tổ, họ phải làm cho chính sự thụ thai của Maria cũng là kỳ diệu: 'Thiên thai vô nhiễm nguyên tội" (Immaculate Conception) tức là bản thân Maria được sinh ra mà không mang tội tổ tông.  

Và chưa dừng lại, họ còn tuyên bố rằng cuối đời, Maria được lên trời cả hồn lẫn xác (Assumption), giống hệt như Jesus.

Những ý tưởng này không phải ngẫu nhiên. Thế giới cổ đại đầy rẫy các truyền thuyết về những nhân vật vĩ đại được sinh ra từ trinh nữ hoặc có cha là thần linh: Hercules (con Zeus), Alexander Đại đế (được cho là con của thần thánh), Augustus Caesar (con Apollo), Plato, Pythagoras, Apollonius của Tyana, và các vị thần cứu thế như Krishna, Osiris, Dionysus, Tammuz... Tất cả đều nhằm nâng tầm nhân vật đó lên cấp độ thần thánh. Không có gì lạ khi một số tác giả Kitô giáo sớm cảm thấy Jesus cũng cần "được nâng cấp" tương tự để cạnh tranh.

Thế nhưng, những tác giả Kitô giáo sớm nhất lại không hề nhắc đến chuyện sinh bởi trinh nữ. Các thư của Phaolô im lặng hoàn toàn về vấn đề này. Phúc Âm Máccô – Phúc Âm cổ nhất – không hề nhắc đến chi tiết đó. Giăng cũng chẳng thèm dùng đến. Ý tưởng "sinh bởi trinh nữ" chỉ xuất hiện muộn hơn nhiều, trong sách Mátthêu và Luca, rồi từ đó "sự bịa đặt thần học" bắt đầu mọc cánh bay lên.

Khi câu chuyện sinh bởi trinh nữ đã được chấp nhận, Giáo hội La Mã phải đối mặt với vấn đề: Trong sách Máccô 6:3 rõ ràng nói Jesus là "con trai bà Maria, là anh em của Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon", và còn có "các em gái". Để bảo vệ trinh tiết Maria vĩnh cửu, Giáo hội tuyên bố những người này là con riêng của Giuse từ cuộc hôn nhân trước, một giả thuyết hoàn toàn không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh hay lịch sử nào hỗ trợ.

Rồi vấn đề tiếp tục: nếu Jesus sinh từ Maria, lẽ nào tội nguyên tổ lại lây qua người mẹ? Các nhà thần học tranh cãi hàng thế kỷ, cho đến tận năm 1854, khá là muộn so với thời Jesus, Vatican mới chính thức công bố giáo điều: Thiên thai vô nhiễm nguyên tội. Lại dựa trên... không một bằng chứng cụ thể nào, chỉ là thấy "phù hợp".

Chưa hết, đến năm 1950, Giáo hoàng Pius XII tuyên bố thêm: Đức Maria, sau khi kết thúc đời sống trần thế, được đưa cả hồn lẫn xác lên thiên đàng. Lần nữa, lại không có bằng chứng Kinh Thánh, không có tài liệu lịch sử nào, chỉ có tuyên bố rằng đây là "mặc khải từ Thiên Chúa" và Giáo hội tự cho mình quyền quyết định điều đó là gì.

Hãy thử tưởng tượng nếu ngày nay ai đó công bố một câu chuyện tương tự: một người phụ nữ sống trọn đời trinh tiết, bổng nhiên có thai rồi bay thẳng lên trời cả hồn lẫn xác. Người ta sẽ cười vào mặt, gọi đó là chuyện hoang đường, và nó sẽ tan biến ngay lập tức. Vậy mà hơn một tỷ người Công giáo vẫn tin những lớp hư cấu chồng chất này, tất cả đều được xây dựng dần dần qua nhiều thế kỷ, không dựa trên bằng chứng mà chỉ dựa trên nhu cầu thần học và quyền lực của Giáo hội.

Chỉ có tôn giáo mới có khả năng làm tê liệt khả năng tư duy phê phán của con người đến mức này, biến những ý tưởng thiếu cơ sở thành "sự thật mặc khải" không thể nghi ngờ. Đó không phải là đức tin, đó là đầu hàng trước sự bịa đặt.

St

Chienslambao.blogspot.com






Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

JESUS CÓ PHẢI LÀ MỘT NHÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VĨ ĐẠI NHƯ NHIỀU NGƯỜI TỪNG NGHĨ?

 Nhiều người không theo Kitô giáo vẫn thường thừa nhận "Chúa" Jesus là một nhà giáo dục vĩ đại và tấm gương đạo đức, dù họ không tin ông là Con Thiên Chúa hay đã phục sinh. Đây là sự nhượng bộ phổ biến trước hình ảnh lý tưởng mà Kitô giáo đã xây dựng và lan tỏa suốt hai thiên niên kỷ. Tuy nhiên, khi đọc kỹ các sách Phúc Âm một cách trung thực, không né tránh, chúng ta thấy rõ Jesus có nhiều lời dạy và hành động khắc nghiệt, cực đoan, thậm chí đáng báo động theo chuẩn mực đạo đức hiện đại.

Ông dạy môn đồ phải ghét gia đình (Luca 14:26), đến để chia rẽ gia đình bằng "gươm giáo" chứ không phải hòa bình (Ma-thi-ơ 10:34-36), đòi hỏi yêu ông hơn cả cha mẹ, vợ con (Ma-thi-ơ 10:37), khuyến khích bỏ nhà cửa gia đình để theo ông (Ma-thi-ơ 19:29), cư xử lạnh lùng với chính mẹ và anh em mình (Ma-thi-ơ 12:47-50), thờ ơ với nỗi đau mất cha của người khác (Ma-thi-ơ 8:21-22), ngăn cản hôn nhân (Luca 20:35), khuyến khích tự chặt tay chân móc mắt để tránh tội (Ma-thi-ơ 5:29-30; 18:8-9), thậm chí tự thiến vì Nước Trời (Ma-thi-ơ 19:12). Ông tán thành luật Cựu Ước nên giết con cái chửi mắng cha mẹ (Ma-thi-ơ 15:4), chấp nhận toàn bộ luật Cựu Ước (Ma-thi-ơ 5:17), đe dọa tra tấn vĩnh cửu cho kẻ không tin (Ma-thi-ơ 25:46; 10:28), kết án cả thành phố phải chết thảm và địa ngục vì không nghe giảng (Ma-thi-ơ 11:21-24), gọi cả thế hệ là "dòng dõi rắn độc" (Ma-thi-ơ 12:34), và nhiều điều khác từ tán thành tra tấn (Ma-thi-ơ 18:34-35), niềm tin vào ma quỷ (Ma-thi-ơ 12:43-45), phân biệt chủng tộc (Ma-thi-ơ 15:26), tán thành nô lệ (Luca 12:47), đến giết 2000 con heo (Ma-thi-ơ 8:30-32), nguyền rủa cây vả (Ma-thi-ơ 21:19), và đe dọa giết trẻ em hay hàng tỷ người trong Khải Huyền (Khải Huyền 2:23; 14:14-20)....

Một tách cà phê có thơm ngon, đậm đà đến đâu thì chỉ một con ruồi chết trong đó cũng đủ khiến toàn bộ trở nên hôi thối, khó nuốt. Giả sử Jesus là nhân vật lịch sử, ông rõ ràng bị giới hạn bởi tư duy tôn giáo cực đoan của thời đại mình. Đã đến lúc nhìn nhận ông khách quan, không bị mê hoặc bởi truyền thống, để thấy rằng ông không phải là tấm gương đạo đức lý tưởng mà nhiều người vẫn tưởng tượng và ca tụng.

St

Chienslambao.blogspot.com




CHÚA CÒN NHỚ HAY CHÚA ĐÃ QUÊN?

 1. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn năng và yêu thương con cái Ngài như cha mẹ yêu con, tại sao Ngài lại để ngọn lửa thiêu sống ba mẹ con trong cơn đau đớn kinh hoàng thay vì chỉ cần một phép lạ nhỏ để dập tắt đám cháy hoặc mở lối thoát?

2. Khi người mẹ và hai đứa trẻ đang cầu nguyện mỗi tối, tại sao lời cầu xin bảo vệ của họ lại không được đáp lời, trong khi chính Kinh Thánh hứa rằng “hễ xin thì sẽ được”?

3. Thiên Chúa có biết trước vụ cháy này từ đời đời không? Nếu có, tại sao Ngài không ngăn chặn từ đầu, mà lại chọn để ba mạng người vô tội bị chết ngạt và bỏng trong tuyệt vọng?

4. Nếu đây là “ý định tốt lành” của Thiên Chúa (như nhiều tín hữu thường nói “mọi sự xảy ra đều có lý do”), thì lý do tốt lành gì đáng để một đứa trẻ 6 tuổi và một thiếu nữ 14 tuổi phải chết cháy thay vì sống tiếp?

5. Tại sao Thiên Chúa lại im lặng và không can thiệp, trong khi Ngài từng được mô tả là đã làm phép lạ xẻ biển, khiến tường thành sụp đổ, chữa lành người mù, thậm chí làm người chết sống lại?

6. Nếu cầu nguyện có sức mạnh thật sự, tại sao hàng triệu tín hữu Kitô giáo trên thế giới cầu nguyện mỗi ngày cho sự bảo vệ, nhưng vẫn có hàng ngàn trẻ em Kitô giáo chết trong hoả hoạn, động đất, tai nạn mỗi năm?

7. Người chồng/bố đi vắng và sống sót, liệu có phải Thiên Chúa đã “chọn” cứu riêng ông ấy và bỏ mặc vợ con, hay chỉ là ngẫu nhiên thuần tuý mà không có bàn tay thần thánh nào?

8. Nếu linh hồn ba mẹ con giờ đang “yên nghỉ trong Chúa” ở thiên đàng, vậy tại sao Thiên Chúa không để họ đến đó một cách nhẹ nhàng (bệnh tật, già cả) thay vì phải trải qua nỗi kinh hoàng bị lửa thiêu sống?

9. Kinh Thánh dạy rằng Thiên Chúa quan phòng từng sợi tóc trên đầu chúng ta, vậy sợi tóc nào trên đầu ba mẹ con khiến Ngài quyết định để họ chết trong đám cháy này?

10. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, tại sao tình yêu ấy lại cho phép (hoặc gián tiếp gây ra) cảnh một người mẹ bất lực nhìn con mình ngạt khói và cháy đen ngay trước mắt?

11. Hàng xóm và lính cứu hoả đã cố gắng hết sức nhưng thất bại, vậy Thiên Chúa, Đấng được cho là mạnh hơn mọi lực lượng con người, tại sao lại để con người phải bất lực trong khi Ngài hoàn toàn có thể cứu?

12. Liệu có phải niềm tin rằng “Chúa sẽ không để điều gì xảy ra nếu không có lý do” chỉ là cách tự an ủi tâm lý, chứ thực tế không có bất kỳ bằng chứng khách quan nào cho thấy sự can thiệp thần thánh trong những thảm kịch như thế này?

13. Nếu Thiên Chúa thực sự nghe lời cầu nguyện của người công chính, tại sao gia đình tín hữu này, những người sống đạo đức, hiền lành theo lời kể hàng xóm lại không được bảo vệ, trong khi rất nhiều kẻ ác vẫn sống thọ và bình an?

St

Chienslambao.blogspot.com







Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

ĐỜI NGƯỜI SỐNG ĐƯỢC BAO LÂU?


Trong một lần đi thuyết giảng, Đức Phật đã đến một nơi rất xa xôi. Trên đường đi, Ngài cùng với các môn đồ của mình đã được chứng kiến biết bao cảnh đời, người giàu có, kẻ nghèo có, người khỏe mạnh có, người đau yếu cũng có. Đó vốn là những thứ tất yếu tồn tại trên cõi đời, nhưng khi tận mắt chứng kiến, mới thật xót xa.

Đi bộ nhiều ngày khiến đôi chân của họ trở nên chai cứng, nhức mỏi, thậm chí là đau đớn. Họ quyết định nghỉ lại giữa đường. Khi ngồi dưới bóng của một cái cây lớn, Đức Phật bất ngờ hỏi một môn đồ ngồi gần nhất, là một Shramana (nhà sư, tu sĩ khổ hạnh) rằng, "Đời người dài bao lâu?".

Bất ngờ trước câu hỏi của Đức Phật, môn đồ này chẳng kịp suy nghĩ gì, đã trả lời rất nhanh như một phản xạ: "Thưa Đức Phật, đời người có lẽ dài được vài chục năm, nếu người nào sống thọ thì có lẽ được hơn như thế một chút".

 Đức Phật hỏi Đời người dài bao lâu, câu trả lời của 1 môn đồ khiến nhiều người giật mình - Ảnh 1.

Đức Phật hỏi các môn đồ, "Đời người dài bao lâu?", mỗi người lại đưa ra một đáp án khác nhau. (Ảnh minh họa)

Đức Phật nói, "Vậy là ngươi chưa hiểu gì rồi". Sau đó, Đức Phật lại hỏi một môn đồ khác, người này trả lời rằng, "Thưa Đức Phật, chẳng phải ai cũng có thể sống được tới vài chục năm. Có những người chỉ sống được vài năm mà thôi". Đức Phật vẫn nói, "Chưa đúng".

"Vậy vài tháng?"…

"Vài tuần?"…

"Vài ngày?"…

Đức Phật trả lời: "Các ngươi chưa hiểu gì về Phật pháp rồi". Cuối cùng, chỉ còn lại một môn đồ im lặng từ lúc đầu đến giờ. Đức Phật nhìn anh ta, rồi hỏi, "Còn ngươi, ngươi nghĩ đời người dài bao lâu?".

Người này nhìn Đức Phật, lễ phép nói: "Thưa Đức Phật, con nghĩ đời người chỉ dài bằng một hơi thở mà thôi".

Đức Phật gật gù: "Đúng vậy ông là người hiểu đạo, đời người chỉ tính bằng hơi thở".

Chienslambao.blogspot.com




CHỦ NGHĨA VÔ THẦN CÓ NHÂN VĂN ĐẠO ĐỨC KHÔNG?

 Chủ nghĩa vô thần không phải là một tôn giáo, mà là sự phủ nhận triệt để mọi hình thức tôn giáo có tổ chức và giáo điều. Nó không phải là một hệ thống tín ngưỡng hay tổ chức có quyền lực, nên không tồn tại “giáo lý vô thần” nào dạy dỗ về đạo đức hay phi đạo đức. Chủ nghĩa vô thần đơn giản chỉ là sự thiếu vắng niềm tin hoặc chủ động từ chối vào sự tồn tại của bất kỳ vị thần nào.

Khi con người buông bỏ niềm tin vào Thượng đế, họ cũng không còn chấp nhận các quy tắc đạo đức chỉ vì chúng được “mặc khải” từ kinh sách hay uy quyền tôn giáo. Thay vào đó, đạo đức ở người vô thần thuộc vào lý trí, kinh nghiệm nhân loại và sự đồng thuận xã hội.

Hãy suy ngẫm thực tế: dù các tôn giáo đều tuyên bố có một Thượng đế tối cao, nhưng mỗi tôn giáo lại mang đến những bộ quy tắc đạo đức khác biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau. Điều này không chỉ gây chia rẽ giữa các cộng đồng, mà còn tạo ra xung đột nội tâm sâu sắc trong chính mỗi cá nhân, khi họ phải chọn giữa lòng trung thành với đức tin và lương tri nhân bản.

Người vô thần chọn con đường đạo đức dựa trên cơ sở lý trí và bằng chứng: tuân thủ luật pháp của xã hội hiện đại, đồng thời ôm lấy các giá trị nhân văn phổ quát – tình yêu thương, lòng trắc ẩn, sự công bằng, trung thực và tôn trọng lẫn nhau. Họ không nói dối, không trộm cắp, không bạo lực, không phân biệt, kỳ thị giới tính không phải vì sợ bị thần thánh phạt, mà vì nhận thức rõ rằng những hành vi ấy gây tổn thương thực sự cho người khác và làm suy yếu chính nền tảng của xã hội mà họ đang sống. Một người vô thần sẽ không chấp nhận sự bất bình đẳng giới tính được biện minh bằng tôn giáo, chẳng hạn như chế độ đa thê một chiều, vì nó rõ ràng vi phạm nguyên tắc bình đẳng và nhân phẩm.

Điều quan trọng hơn: chính vì không tin có một đấng tối cao sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi qua nghi lễ hay sám hối, người vô thần mang trong mình ý thức trách nhiệm tuyệt đối với hành động của mình. Họ hiểu rằng hậu quả của cái ác là thực tại, không phải nằm ở đời sau, mà ngay trong cuộc đời này, trong lương tâm, trong mối quan hệ và trong xã hội. Ngược lại, niềm tin vào sự tha thứ vô điều kiện từ Thượng đế lại tạo ra kẽ hở tâm lý, khiến con người dễ dàng biện minh cho hành vi sai trái, với hy vọng “sẽ được rửa sạch” qua nghi thức.

Tôn giáo, dù mang lại ý nghĩa, mối quan hệ cộng đồng, sự an ủi cho nhiều người, nhưng lại có khả năng đáng sợ: làm mờ lý trí của cả những trí thức xuất sắc, và biến những con người lương thiện thành hung bạo khi họ nhân danh Thượng đế để kỳ thị, căm ghét hay thậm chí tàn sát những ai tin khác. Lịch sử nhân loại đầy những bi kịch như vậy từ chiến tranh tôn giáo đến bạo lực cực đoan ngày nay.

Chủ nghĩa vô thần, ở bản chất tốt đẹp nhất, là lời kêu gọi sống bằng lý trí và bằng chứng. Nó khuyến khích chúng ta không tin bất cứ điều gì chỉ vì truyền thống, uy quyền hay số đông, mà phải tự mình quan sát, phân tích và kiểm chứng. Triết lý này được thể hiện sâu sắc qua lời dạy nổi tiếng của ông Phật:

“Đừng tin điều gì chỉ vì nghe nói. Đừng tin chỉ vì nhiều người nói. Đừng tin chỉ vì nhìn thấy trong kinh sách. Đừng tin chỉ vì thầy dạy hay người lớn tuổi bảo. Đừng tin chỉ vì truyền thống lâu đời. Nhưng sau khi tự mình quan sát, phân tích, thấy điều đó hợp lý, mang lại lợi ích và hạnh phúc cho bản thân lẫn mọi người, thì hãy chấp nhận và sống theo.”

Đáng tiếc, chính triết lý lý trí ấy đã bị biến dạng khi ông Phật bị phong thần thánh và Phật giáo trở thành tôn giáo với nghi lễ phức tạp, đôi khi xa rời tinh thần ban đầu.

Nhưng lịch sử đang chuyển động. Nhân loại ngày càng tiến bộ nhờ khoa học, giáo dục và tư duy phê phán. Các quốc gia có tỷ lệ người vô thần, bất khả tri hoặc không theo tôn giáo cao nhất thường nằm trong nhóm phát triển nhất, bình đẳng nhất và hạnh phúc nhất thế giới. Theo các khảo sát gần đây (2023–2025), Trung Quốc dẫn đầu với khoảng 90–91% dân số không theo tôn giáo hoặc vô thần; Nhật Bản khoảng 86%; Thụy Điển khoảng 78%; Czech Republic khoảng 75%; cùng với Đan Mạch, Na Uy, Việt Nam và nhiều nước Bắc Âu khác có tỷ lệ không tôn giáo rất cao (thường trên 50–70%).

Những quốc gia này, đặc biệt các nước Bắc Âu như Phần Lan (liên tục đứng đầu), Đan Mạch, Thụy Điển, Iceland, Na Uy thống trị bảng xếp hạng hạnh phúc thế giới (World Happiness Report 2025), với chỉ số cao về lòng tin xã hội, bình đẳng giới, phúc lợi, tự do cá nhân và chất lượng cuộc sống. Họ chứng minh rằng một xã hội có thể đạo đức, nhân văn và thịnh vượng mà không cần dựa vào niềm tin siêu nhiên.

Xu hướng toàn cầu rõ ràng: khi tôn giáo suy giảm và lý trí, khoa học lên ngôi, con người không trở nên vô đạo đức ngược lại, xã hội thường trở nên công bằng, an toàn và nhân ái hơn. Tương lai có lẽ sẽ chứng kiến chủ nghĩa vô thần không còn là thiểu số, mà trở thành nền tảng phổ biến của nhân loại tiến bộ, nơi đạo đức xuất phát từ sự thấu hiểu và đồng cảm thực sự, chứ không từ nỗi sợ hãi hay hy vọng phần thưởng thiêng liêng.

# Clip đoàn 19 nhà sư mang theo thông điệp hòa bình đã đến Richmond vào thứ Hai, ngày thứ 100 trong cuộc hành trình đi bộ từ Texas đến Washington D.C. Văn phòng thị trưởng ước tính có khoảng 10.000 người đứng dọc tuyến đường đi qua thành phố.

https://www.facebook.com/share/p/1AHtQsVvJ7/

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

ĐAU KHỔ LÀ MỘT MÓN QUÀ CỦA CHÚA BAN TẶNG CHO TÍN ĐỒ.

 Bà "Mother" Teresa nói rằng :  “Đau khổ là một món quà từ Chúa. Nó đưa chúng ta đến gần Chúa Jesus trên thập tự giá hơn. Chấp nhận số phận của bạn với niềm vui.”

Nếu đau khổ thực sự là “món quà đẹp đẽ” từ Chúa, thì logic rất đơn giản: càng đau khổ nhiều càng tốt, vì càng gần Chúa hơn. Vậy tại sao phải cố gắng giảm đau? Tại sao phải đầu tư vào thuốc giảm đau, chăm sóc y tế hiện đại? Quan điểm này dễ dẫn đến việc không chữa trị triệt để, thậm chí coi việc giảm đau là chống lại ý Chúa. Nó không còn là chấp nhận thập giá theo ý niệm Kitô giáo truyền thống, mà trở thành tôn thờ đau khổ có hệ thống.

Thế nhưng chính Teresa lại không sống theo lời mình nói. Khi bà bị bệnh tim, bà đến bệnh viện hiện đại ở Mỹ và châu Âu, nhận morphine, phẫu thuật, chăm sóc tốt nhất. Còn ở Nhà Thương của bà tại Calcutta, bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối thường chỉ được cho aspirin (nếu có), kim tiêm tái sử dụng, điều kiện vệ sinh kém, đau đớn kéo dài không được giảm nhẹ đúng mức. Nếu đau khổ là “món quà”, sao bà lại từ chối món quà đó cho chính mình? Đây là sự đạo đức giả rõ ràng: món quà thiêng liêng đáng khinh đó chỉ dành cho người nghèo, người yếu thế; còn người có quyền lực thì được miễn trừ.

Hậu quả thực tế thì đau lòng. Nhiều nhân chứng,bác sĩ, tình nguyện viên, nhà báo như Aroup Chatterjee mô tả các Nhà Thương của Missionaries of Charity giống nơi tôn vinh đau khổ hơn là chữa trị: bệnh nhân quằn quại, thiếu morphine dù tiền quyên góp khổng lồ, điều kiện kém đến mức dễ lây nhiễm thêm bệnh. Chatterjee gọi đó là “cult of suffering” – một giáo phái tôn thờ đau khổ. Mục tiêu dường như không phải cứu mạng sống hay giảm đau, mà là để họ chịu đau như Jesus, nhằm “cứu linh hồn”. Kết quả: hàng ngàn người chết trong đau đớn không cần thiết.

Hơn nữa, khi bà nói “có điều gì đó rất đẹp khi thấy người nghèo chấp nhận số phận, chịu đựng như cuộc khổ nạn của Chúa”, bà đã làm đẹp hóa nghèo đói và bất công. Giới giàu có, chính trị gia, doanh nhân cảm thấy an ủi lương tâm khi quyên góp, mà không cần đặt câu hỏi tại sao hệ thống xã hội vẫn đẩy người ta vào nghèo khổ. Christopher Hitchens từng gọi đây là cách giúp người giàu cảm thấy “được cứu rỗi” mà không phải thay đổi gì cả, nó giữ người nghèo ở vị trí nạn nhân thiêng liêng, thay vì trao quyền để họ thoát nghèo.

Không ai, được phép áp đặt diễn giải thần học lên nỗi đau của người khác, rồi dùng nó để biện minh cho việc không làm hết sức để giảm đau khổ. Đau khổ phần lớn đến từ bệnh tật, nghèo đói, bất công ...những thứ con người có khả năng giảm bớt đáng kể nhờ y học, tiến bộ và công bằng xã hội. Gọi chúng là “món quà” chẳng khác gì bảo: “Đừng chữa ung thư, cứ để họ chịu đau, Chúa đang hôn họ đấy”.


Một xã hội văn minh không tôn vinh đau khổ mà phải dốc hết sức giảm thiểu nó, bằng khoa học, y tế và lòng trắc ẩn thực sự. Nỗi đau của con người không phải món quà, nó là điều cần được chữa lành, xoa dịu, và xóa bỏ khi có thể.

St

Chienslambao.blogspot.com




CON CHIÊN ĐẠO THIÊN CHÚA MÊ TÍN THỨ HAI THÌ KHÔNG CÓ AI CHỦ NHẬT

 Công giáo La Mã rao giảng khinh thường của cải, ca ngợi người nghèo là “phúc lành”, kêu gọi “đừng lo cho ngày mai”. Nhưng thực tế phũ phàng: Giáo hội này vận hành như một cỗ máy tài chính khổng lồ, sống nhờ và sống bằng dòng tiền chảy từ túi những người nghèo nhất.

Nhà thờ đồ sộ, Vatican lộng lẫy, bộ máy giáo sĩ được trả lương, tất cả đều được xây dựng trên những đồng tiền ít ỏi của tín hữu. Một vị Thiên Chúa toàn năng cần gì đến ngân sách hàng tỷ đô, cần gì đến phong bì dâng cúng để tồn tại? Câu trả lời rõ như ban ngày: vì không có tiền, Giáo hội sẽ sụp đổ. Đó không phải là Giáo hội của Chúa, mà là đế chế của con người - tham lam, quyền lực, và rất trần tục.

Việc dâng hiến dù gọi là “tự nguyện” lại là sợi dây vô hình trói chặt tín đồ. Đổ tiền vào “kho của Chúa” bao năm từ dâng lễ, xin lễ, đóng góp xây dựng, đến các khoản “cảm tạ”... Việc rời bỏ trở thành một tổn thất tâm lý khổng lồ, tương tự hiệu ứng sunk cost (chi phí chìm). Họ không chỉ mất tiền, mà còn mất đi ý nghĩa đã đầu tư vào niềm tin, vào cộng đồng giáo xứ, ai dám bỏ đi? 

Tàn nhẫn nhất là việc khai thác nỗi đau: một người mẹ, một người cha hay một người tuyệt vọng, bỏ một ít tiền vào phong bì, viết nguệch ngoạc cầu xin cho người thân hoặc chính bản thân mình: “xin Chúa chữa lành bệnh cho con”. Họ được dạy rằng: dâng nhiều = tin nhiều = được chữa lành. Kết quả? Bệnh vẫn còn, tiền mất, hy vọng tan vỡ, và họ tiếp tục quay lại vì “có lẽ chưa dâng đủ”. Đây không phải mục vụ, đây là bóc lột tinh thần trá hình dưới lớp áo từ bi.

Khi một Giáo hội tự xưng là đại diện Thiên Chúa lại phải dựa vào phong bì của người nghèo để “chữa bệnh”, thì nó đã tự phán xét chính mình: không phải Thiên Chúa đang điều hành, mà là những bàn tay con người đang thao túng nỗi sợ và niềm tin để duy trì quyền lực.

Công giáo La mã không phải là con đường dẫn đến Thiên đàng. Nó là một hệ thống tinh vi biến đức tin thành hàng hóa, biến sự tuyệt vọng thành nguồn thu nhập ổn định.

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

TỔ PHỤ APRAHAM CÓ THẬT KHÔNG?

 CÓ LẼ BẠN CHƯA BIẾT APRAHAM ÔNG TỔ CỦA BA TÔN GIÁO LỚN ĐẠO THỜ THIÊN C HÚA Ở TRUNG ĐÔNG (HỒI, DO THÁI VÀ CÔNG GIÁO) LÀ MỘT NHÂN VẬT HƯ CẤU KHÔNG HỀ CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ.🤭

Apraham tổ phụ của ba tôn giáo thờ độc thần xuất phát từ Trung đông, là một nhân vật hư cấu trong truyện thần thoại của người Do Thái, hoàn toàn khác so với đức Phật là nhân vật lịch sử có thật.

Chienslambao.blogspot.com



Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

HÀ BÁ LẤY VỢ

 Cách người xưa trị mê tín

Nhiều năm trước, trong một chuyến điền dã dọc sông Hóa (khu Thái Thụy - Thái Bình), tôi tìm hiểu về một ngôi đền thờ Tây Thi - tứ đại mỹ nhân Trung Hoa, mà dân địa phương tin là quê gốc của nàng.

Chưa kịp ngạc nhiên vì câu chuyện ấy, tôi lại gặp một ngôi đền khác: đền thờ một đào hát. Và câu chuyện phía sau khiến người nghe vừa rợn, vừa tò mò, lại vừa khó tin.

Thời Lê, đê sông Hóa liên tục vỡ. Nước lũ triền miên, dân đói khổ. Bà đồng được mời đến “thỉnh” Hà Bá. Kết quả: Hà Bá đòi hiến tế.

Một sân khấu được dựng ngay bên sông. Dân làng thuê đào hát về diễn. Khi đào đang múa hát trên sàn, người ta bí mật chặt cột, để cả sân khấu trôi tuột xuống dòng nước. Đào hát bị hiến cho Hà Bá.

Thương xót, dân lập đền thờ nàng. Đến nay vẫn hương khói.

Đồng cốt, mê tín ở Việt Nam, xét kỹ, phần lớn đều chịu ảnh hưởng từ phương Bắc. Hà Bá cũng là một “thần” như thế. Người đi sông nước xưa nay đều sợ cái tên này.

Lật lại sử sách thời Chiến Quốc mới thấy: mê tín không phải không thể diệt. Người xưa đã làm rồi.

Tư Mã Thiên từng chép một câu chuyện rất nổi tiếng về Tây Môn Báo, người nước Ngụy, sống khoảng thế kỷ V trước Công nguyên - một ví dụ điển hình cho cách trị mê tín bằng lý trí và quyền lực.

Thời Ngụy Văn Hầu, Tây Môn Báo được cử làm huyện lệnh ở ấp Nghiệp. Vừa nhậm chức, ông hỏi các bô lão:

- Dân ở đây khổ vì điều gì nhất?

Họ đáp:

- Khổ vì Hà Bá lấy vợ.

Hỏi ra mới biết: mỗi năm quan tam lão và thuộc hạ thu thuế của dân, trích vài chục vạn để “cưới vợ cho Hà Bá”, phần còn lại chia nhau với đám đồng cốt. Bọn này thấy nhà nào có con gái đẹp thì phán “được chọn”, mang sính lễ tới. Cô gái bị nhốt riêng, ăn chay, mặc lụa, ở trong “nhà trai” bên sông hơn mười ngày. Sau đó được trang điểm như tân nương, đặt lên giường thả trôi xuống sông Hoàng Hà cho đến khi chìm hẳn.

Nhà nào cũng sợ. Nhiều người phải đưa con gái trốn đi nơi khác. Thành quách tiêu điều, ruộng đất bỏ hoang, đói kém càng thêm đói kém. Dân gian truyền miệng: “Không lấy vợ cho Hà Bá thì nước sẽ dâng gi.ết sạch.”

Nghe xong, Tây Môn Báo chỉ nói:

- Lần tới Hà Bá cưới vợ, nhớ báo ta đến tiễn.

Ngày ấy, toàn bộ tam lão, đồng cốt, bô lão và dân chúng tập trung bên sông. Người con gái được đưa ra. Tây Môn Báo nhìn một lát rồi nói:

- Cô này chưa xứng. Phiền bà cốt xuống báo Hà Bá, chờ người khác.

Ông lập tức ra lệnh ném bà cốt xuống sông.

Một lúc sau, ông lại nói:

-Sao bà cốt đi lâu thế? Đệ tử xuống giục đi.

Lại một người bị ném xuống.

Rồi thêm người nữa.

Sau cùng, Tây Môn Báo nói:

- Đàn bà con gái khó trình bày rõ. Phiền tam lão xuống nói cho cặn kẽ.

Tam lão cũng bị quẳng xuống sông.

Lúc này, đám quan lại và bô lão còn lại hoảng loạn, quỳ rạp xin tha, đầu đập xuống đất, máu chảy đầm đìa. Tây Môn Báo thản nhiên:

- Được, ta đợi thêm chút nữa.

Chờ một lúc, ông nói:

- Hà Bá giữ khách lâu quá. Thôi, giải tán.

Từ đó, không còn ai dám nhắc đến chuyện Hà Bá lấy vợ.

Tây Môn Báo cho đào mười hai con ngòi, dẫn nước sông vào ruộng. Ban đầu dân kêu khổ, ông chỉ nói:

- Lúc làm thì mệt, nhưng trăm năm sau con cháu các ông sẽ nhớ hôm nay.

Quả nhiên, đất Nghiệp nhờ thủy lợi mà no đủ, giàu có. Tây Môn Báo trở thành vị quan nổi tiếng, ân đức lưu truyền hậu thế.

Một câu chuyện cũ, nhưng đọc lại vẫn thấy rợn người.

Mê tín không biến mất vì cầu khấn-mà biến mất khi có người dám cắt đứt lợi ích của kẻ nuôi mê tín.

(ảnh mạng- minh họa )

St

Chienslambao.blogspot.com






Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

VÌ SAO TÔI BỎ ĐẠO?

 Ngày trước tôi cũng như bạn là người Kitô hữu đi nhà thờ rước lễ đọc Kinh Lạy Cha Nhưng sau khi đọc Kinh Thánh một cách nghiêm túc và tìm hiểu lịch sử tôn giáo tôi đã rời bỏ đức tin này vì tôi thấy vị thần mà tôi thờ phượng như 1 kẻ giết người hàng loạt và hay giận hờn vu vơ khi người ta không thờ phượng ông ta 

Nếu bạn đọc Cựu Ước và Tân Ước bạn sẽ thấy hình ảnh Thiên Chúa trong Kinh Thánh không hề hiền lành như vẫn được giảng dạy 10 tai họa Ai Cập Xuất Hành trong đó có việc giết con trai đầu lòng của người vô tội quân Ai Cập chết hàng loạt khi qua Biển Đỏ

Đại hồng thủy Sáng Thế Ký tiêu diệt gần như toàn bộ nhân loại chỉ chừa lại 8 người vì thờ phượng ông ta 46 trẻ em bị gấu xé xác chỉ vì trêu chọc ngôn sứ 2 Vua 2:23–24)

Tất cả những hành động này đều được ghi rõ là do Thiên Chúa ra lệnh hoặc trực tiếp gây ra. Nếu một con người làm như vậy chắc chắn sẽ bị gọi là bạo lực và tàn nhẫn nhưng khi gán cho Thiên Chúa thì lại được gọi là công lý hay kế hoạch tốt đẹp

Chính những mâu thuẫn đó khiến tôi không thể tiếp tục tin.

Tôi chia sẻ điều này không để xúc phạm ai mà để nói nếu muốn tôn Thờ 1 ai thì hãy tìm hiểu người đó và để xem người đó có thật hay không có đáng hay không 1 vị thần mà hở là giết người và giết cả trẻ em người già và trẻ em và người đang mang thai giết sạch nhân loại cơn đại hồng thủy có đáng được tôn sùng là một vị thần bác ái không tôi thấy ông ta thật kinh khủng thật ác trong lịch sử loài người chưa có một cuộc chiến tranh nào chưa có vụ thảm sát nào kinh khủng như vậy

St

Chienslambao.blogspot.com




Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

TẠI SAO NGƯỜI DO THÁI KHÔNG TIN JESUS LÀ THIÊN CHÚA CỦA HỌ?

 Người Do Thái Không Tin jesus

Theo kinh thánh, jesus hóa bánh cho 5.000 người ăn, làm người chết sống lại, chữa lành người mù ngay giữa phố thị. Với một cộng đồng nhỏ như Judea thời đó, đây phải là những sự kiện chấn động đến mức "không tin không được". Nhưng thực tế lịch sử lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác.


Nếu thật sự có 1 sự kiện như thế xảy ra với người do thái, La Mã đã chẳng cần phải tốn công sức sát hại hàng triệu người do thái trong các cuộc chiến để ép họ phải tin.

St

Chienslambao.blogspot.com






SỰ KHÁC NHAU GIỮA "THIÊN ĐÀNG" ĐẠO CHÚA VÀ "NIẾT BÀN" TRONG PHẬT GIÁO

 Jesus bay hồn xác "Lên trời ngự bên hữu đức chú a cha phép tắc vô cùng", tại sao Giê su ngự bên hữu mà ko phải bên tả? Điều này chứng tỏ "thiên đàng" của đạo ch úa là một nơi chốn, một địa điểm có toạ độ phương vị cụ thể có chiều kích không gian rõ ràng, chứ không phải là một trạng thái của tâm thức giống như cảnh giới "niết bàn" trong Phật giáo, mấy chiên đọc kinh tin kính hoài chẳng lẽ không nhận ra điểm khác biệt này?😁😁

Chienslambao.blogspot.com





Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

VŨ TRỤ MUÔN LOÀI ĐƯỢC THIÊN CHÚA TẠO DỰNG NÊN CÁCH ĐÂY BAO NHIÊU NĂM?

 Tuy Kinh Thánh không ghi trực tiếp Trái Đất được tạo ra cách đây bao nhiêu năm. Tuy nhiên, nhiều người Kitô giáo theo thuyết sáng tạo Trái Đất trẻ, dựa vào các gia phả chi tiết trong Sáng Thế chương 5 (từ Adam đến Noah) và Sáng Thế chương 11 (từ Noah đến Abraham), kết hợp với các mốc lịch sử sau đó để tính toán.

Từ Adam đến Noah: khoảng 1.656 năm (dựa trên tuổi tác khi sinh con và thời gian sống được ghi chép chi tiết trong Kinh Thánh). 

Tương tự từ Noah đến Abraham: vài trăm năm.

Từ Abraham đến Jesus: khoảng 2.000 năm.

Từ Jesus đến nay: khoảng 2.000 năm.

Tổng cộng rơi vào khoảng 6.000 năm. Con số nổi tiếng nhất đến từ Giám mục James Ussher thế kỷ 17, ông tính "chính xác" rằng sự sáng tạo bắt đầu vào ngày 23 tháng 10 năm 4004 TCN (theo lịch Julian). Đến năm 2026, tuổi Trái Đất theo cách này là khoảng 6.030 năm.

Quan điểm này dựa trên nghĩa đen và tính không sai lầm của Kinh Thánh. Sáu ngày sáng tạo là sáu ngày 24 giờ thực sự và gia phả được chép trong Kinh Thánh là chính xác.

Nhưng khoa học  hiện đại đạt được sự đồng thuận mạnh mẽ rằng Trái Đất khoảng 4,5 tỷ năm tuổi. Vậy làm sao chúng ta biết Trái Đất 4,5 tỷ năm tuổi?

Câu trả lời là Chì.

Cách chính xác nhất để xác định tuổi của Trái Đất là phân tích chì, cụ thể là bằng cách đo tỷ lệ Uranium-238 so với sản phẩm phân rã ổn định của nó, Chì-206. Quá trình này, được gọi là định tuổi bằng phóng xạ, hoạt động hiệu quả vì Uranium-238 đóng vai trò như một chiếc đồng hồ nguyên tử chính xác. Nó phân rã theo một chuỗi các bước có thể dự đoán được, bắt đầu bằng việc giải phóng một hạt alpha để trở thành Thorium-234, sau đó biến đổi qua nhiều nguyên tố không ổn định khác thông qua bức xạ alpha và beta cho đến khi cuối cùng ổn định thành Chì-206. Các nhà khoa học đo tỷ lệ giữa Uranium-238 còn lại và Chì-206 đã tích tụ trong mẫu đá. Càng nhiều Chì-206 so với Uranium-238, nghĩa là càng nhiều thời gian đã trôi qua. Đây là cách đọc "đồng hồ": biết được bao nhiêu phần trăm uranium đã phân rã để biến thành chì.

Để hiệu chỉnh chiếc đồng hồ này, các nhà vật lý nghiên cứu các mẫu vĩ mô chứa hàng tỷ tỷ nguyên tử. Ngay cả với khung thời gian dài như vậy, vẫn có một số lượng nguyên tử có thể đo được phân rã mỗi giây.  Bằng cách đếm các sự kiện phân rã cụ thể này và so sánh chúng với tổng số nguyên tử trong mẫu, các nhà khoa học tính toán hằng số phân rã và xác định chu kỳ bán rã của Uranium-238, được xác định là khoảng 4,47 tỷ năm. Do đó, nếu một mẫu đá chứa tỷ lệ Uranium-238 và Chì-206 gần bằng nhau, các nhà khoa học biết rằng khoảng một chu kỳ bán rã đã trôi qua, khiến cho mẫu đá đó khoảng 4,5 tỷ năm tuổi.

Tuy nhiên, việc tìm kiếm những mẫu đá đã tồn tại từ thuở sơ khai của Trái đất rất khó khăn vì hành tinh này hoạt động địa chất mạnh mẽ: kiến ​​tạo mảng và xói mòn đã tái chế hầu hết lớp vỏ ban đầu. Để khắc phục điều này, các nhà khoa học phân tích các thiên thạch, chẳng hạn như thiên thạch Canyon Diablo. Những tảng đá vũ trụ này được hình thành từ cùng một đám mây bụi và khí nguyên thủy như Trái đất nhưng vẫn không bị biến đổi về mặt địa chất trong chân không vũ trụ. Phân tích phóng xạ của các mẫu nguyên vẹn này luôn cho ra kết quả tuổi khoảng 4,54 tỷ năm, từ đó xác định được tuổi của hệ mặt trời và, rộng hơn, là tuổi của Trái đất.

Quan điểm Trái Đất trẻ không đứng vững trước bằng chứng khoa học. Không có dữ liệu khoa học nào chứng minh Trái Đất chỉ 6.000 năm. Để duy trì quan điểm này, phải bác bỏ không chỉ định tuổi phóng xạ mà còn địa chất học, cổ sinh vật học, thiên văn học (ánh sáng từ thiên hà xa hàng tỷ năm ánh sáng), và sinh học phân tử ... một quan điểm phi lý.

St

Chienslambao.blogspot.com








KHI CHƯA CÓ MẶT TRỜI MẶT TRĂNG VÀ CÁC VÌ SAO, NHƯNG THIÊN CHÚA VẪN TẠO RA ĐƯỢC NGÀY VÀ ĐÊM MỚI TẾU CHỚ.🤭

 Chứng minh thiên chúa có thật Người thắc mắc: Thiên chúa có toàn năng không vậy, thưa cha? Cha xứ: Có chứ con. Không có gì mà thiên chúa kh...